tháng 9 23, 2014

Tuổi thơ cay đắng

Khi mẹ tôi giao cho tôi một trăm đồng bạc Đông Dương và hai đồng cân vàng, dặn dò trông hai đứa em, để bà về Hải Phòng cho lợn gà ăn rồi sẽ trở lại với ba chị em chúng tôi, thì lúc đó tôi mới là một cô bé mười hai tuổi, con Duyên lên tám và thằng Kính mới có năm tuổi.
Cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ ở Hải Phòng, vào khoảng giữa năm 1945. Trưa đó, tôi vừa đi học về thì thấy mẹ tôi hoảng hốt nhồi một ít quần áo vào mấy cái dó, đóng vội cửa nhà lại, rồi cũng vội vàng lôi ba chị em tôi để đi tản cư theo dòng người cuồn cuộn đổ ra các ngả ngoại thành, không còn kịp đợi bố và anh cả tôi đi làm về nữa.
Mẹ tôi đưa chúng tôi lên Rế cách Hải Phòng gần chục cây số về phía Hải Dương nơi bà có quen vài người ở đó. Được hai ngày thì bà sốt ruột sợ mấy con gà, con lợn ở nhà chết đói, thế là bà gửi chúng tôi lại để trở về nhà.
Đó là lần cuối cùng chúng tôi được thấy mẹ, để rồi sau này những ngày giỗ của bà, mấy chị em tôi lại đặt đồng bạc Gánh Dừa lên sau mấy nén hương, nhìn hình người đàn bà vấn khăn mà tưởng nhớ về mẹ mình.
Ít lâu sau chiến sự lan ra, ở Rế cũng không còn yên ổn nữa, chủ nhà cũng gói ghém đồ đạc để tản cư. Chị em tôi, đành nhắm mắt đi theo dòng người rối loạn ấy, để rời càng xa Hải Phòng bao nhiêu càng tốt bấy nhiêu.
Đi trong đêm, đầu đội dó quần áo, tay dắt em, đạn lửa vạch sáng trên nền trời tối đen làm thành một cái lưới lửa khổng lồ biến đổi không thôi.
Tiếng gọi nhau, tiếng kêu vì vấp ngã, tiếng khóc vì lạc nhau, tạo thành một màn âm thanh thật sầu thảm và rối rắm.
Tôi còn nhớ lúc đầu tôi đội dó quần áo, tay lôi con Duyên, con Duyên thì lôi thằng Kính, lếch thếch chạy theo dòng người hỗn độn. Sau thằng Kính không đi được nữa, tôi đành trút cái dó lên đầu con Duyên để cõng em. Lúc đầu là mất guốc, mất nón, sau cái dó duy nhất cũng chẳng còn. Một mình tôi vừa cõng em giai, vừa lôi em gái. Cũng chẳng biết đã ăn những gì, ngủ ở đâu mà một hôm khi hỏi ra thì chúng tôi đã ở Cẩm Giàng cách nhà đến năm mươi cây số. Chị em chúng tôi làm sao đã không lạc nhau, làm sao đã không bị đạn, không chết. Nghĩ lại thật không sao tưởng tượng nổi. Đến lúc nghỉ ngồi nhìn lại nhau, chúng tôi không thể nào nhận ra nhau dưới cái bộ dạng thiểu não và bẩn thỉu như một lũ ăn mày ấy nữa.    
Quả thật sau đó, đói quá chúng tôi đã phải đi ăn xin ở ga Cẩm Giàng. Khổ nỗi bấy giờ chẳng ai lo nổi thân mình thì làm sao còn nghĩ đến người khác được nữa. Mấy ngày sau chúng tôi chỉ còn là những cái bóng vật vờ.
Thật may, ông Dị một người hàng xóm của gia đình tôi cũng chạy về đây nhận ra được. Ông bà Dị đem chúng tôi về ở cùng còn chúng tôi thì như vừa trải qua một cơn ác mộng.
Ông Dị quê ở Cẩm Giàng, ông đã đứng tuổi, tính tình bộc tuệch. Hai vợ trước nghe đâu quê ở Quảng Yên, bà ba quê đâu không rõ. Đó là một người đàn bà nửa tỉnh, nửa quê, nói như vậy vì cái hay của người ở tỉnh thì bà không có được, còn cái gì dở của người dân quê thì bà vẫn giữ nguyên vẹn. Tuy chỉ là vợ ba của một ông thư ký quèn, nhưng bà lại cố học đòi cái vẻ đài các của một bà phán giàu có.
Bà chưa có con nhưng đã có một cái bụng chửa thật to. Lúc ấy tôi cứ tự hỏi không biết làm sao mà bà lại vác được cái bụng to như thế, để đi xa như thế. Ông Dị tản cư về nhờ nhà ông Sanh là anh họ ông ở Cẩm Giàng. Chị em tôi ở với ông bà Dị được một tuần, thì đã ba bốn lần bà ba hỏi tôi có tiền và vàng không? Tôi đưa cho bà 50 đồng bạc Đông Dương, chỗ còn lại tôi dấu đi thật kỹ. Đã nhiều đêm ngủ cạnh bà, nửa đêm tôi chợt thức giấc vì bị bà lần cạp quần. Dù còn đang rất thèm ăn, thèm ngủ, nhưng với sự nhanh nhạy và láu cá của một đứa con gái mười hai tuổi, bà ba vẫn không tìm được chỗ tôi dấu của. Bà bèn thay đổi chiến thuật, rủ tôi đi tắm ở ao làng rồi lừa lúc tôi còn đang mải bì bõm dưới nước bà lẻn lên trước lần tìm kho báu, nhưng vẫn không lấy được. Bà bắt đầu tỏ vẻ khó chịu.
Đúng lúc ấy ông Sanh cho tìm tôi vào gặp.
Ông là một người đàn ông to cao, đĩnh đạc, rất giàu và cũng có đến ba bà vợ.
Đứng trước ông trong một ngôi nhà đầy đồ đồng sáng bóng, bàn ghế, giường tủ đều trạm trổ, khảm trai lóng lánh, tôi cảm thấy quá nhỏ bé và rụt rè.
Ông ân cần nắm tay tôi nói:
- Tôi có biết bố mẹ cháu. Tôi là một người đứng đắn và giàu có. Giàu có thì cháu thấy rồi, nhưng còn có đứng đắn, đáng tin cậy chưa thì cháu chưa thấy được phải không? Nhưng dù sao cũng phải liều lĩnh tý chút, bởi vì đang có chiến tranh mà. Bây giờ thế này, tôi mời cháu đến đây để nói với cháu một chuyện. Cháu bao nhiêu tuổi rồi nhỉ? Mười hai à! Ừ, còn nhỏ quá, nhưng dù sao cũng đã là chủ của một gia đình rồi. Thì đấy thôi, cháu chẳng là chị của hai đứa em là gì! Và cháu cũng lớn khôn nhất trong ba chị em phải không? Tôi biết cháu có một ít tiền và một ít vàng, cháu đã giấu rất kỹ nhưng tôi vẫn biết, bởi vì tôi là người lớn mà. Bây giờ thế này cháu hãy mang gửi tôi chỗ đó, tôi hứa danh dự sẽ không làm suy suyển tài sản của cháu một xu nhỏ và cả chuyện này nữa, từ hôm nay, ba chị em cháu sẽ sang ở bên này với chúng tôi. Bởi vì chú thím Dị có khó khăn trong sinh hoạt, cũng là dân tản cư mà! Cháu vẫn chưa thật tin tôi sao. Làm thế nào bây giờ nhỉ? Hay cháu đem gửi chú Dị vậy, chú ấy là hàng xóm của bố mẹ cháu mà.
À, thế ra là cháu không có tiền và vàng thật à! Ừ, thì thôi không gửi nữa vậy. Nhưng ba chị em cháu thì sẽ sang bên này ở chứ. Thế là thoả thuận rồi nhé, ngay từ tối nay.
Và ngay từ tối đó, ba chị em chúng tôi được ông Sanh nuôi nấng. Mãi hơn tháng sau, khi đã rất yên tâm, tôi mới rụt rè nói với ông xin cho gửi chỗ của cải mà mẹ tôi để lại. Ông cảm động ôm lấy tôi xoa đầu mà không nói gì cả. Dù sao bấy giờ tôi cũng chỉ là một cô bé mới mười hai tuổi đầu, mà lại còn hai đứa em nhỏ nữa.
Ba bốn tháng sau, bố tôi lúc bấy giờ thoát ly công tác trong một đơn vị Công an, đã xin phép đơn vị để đi tìm con, vì ông được tin mẹ tôi khi trở về Hải Phòng bị mật thám phục kích bắt, sau khi chúng đã lục soát nhà, tìm được truyền đơn và lựu đạn của ông khi hoạt động bí mật còn để lại. Do hỏi han những người tản cư và dò tìm nhiều ngày, bố tôi đã tìm được chúng tôi ở nhà ông Sanh mãi tận Cẩm Giàng.
Cha con chúng tôi đã ôm lấy nhau mà khóc như mưa, kể cho nhau nghe về mẹ, về anh tôi và về những ngày lang thang, cơ nhỡ.
Anh tôi lúc bấy giờ mới mười lăm tuổi đang học nghề thợ điện ở Hàng Kênh và hôm Hải Phòng bùng nổ chiến sự, anh đã trốn đi theo một đơn vị bộ đội.
Mãi mấy năm sau này, khoảng năm 1949, bố tôi mới nhận được một lá thư của anh viết cho bà cô ruột, nói là anh đang ở Trung đoàn 36, Đại đoàn 308. Anh xin bố tha lỗi vì đã trốn đi bộ đội mà không xin phép gia đình, lúc ấy anh cũng chưa biết là mẹ tôi đã bị bắt.
Anh đi đến mãi tận mùa xuân 1954, trong một trận mở màn của chiến dịch Điện Biên Phủ, khi truy kích địch ở mặt trận Thượng Lào, anh đã ngã xuống hy sinh trong vòng tay cô y tá đơn vị. Lúc bấy giờ anh mới hơn hai mươi tuổi, còn rất trẻ, chưa kịp biết vị ngọt ngào và cay đắng của tình yêu. Anh mất đi làm thành một tổn thất không gì bù đắp nổi đối với gia đình tôi. Mất mát đã tạo thành những lỗ hổng chẳng thể hàn vá được, nó cứ toang hoác trông thật đau đớn và ghê tởm. Mãi sau này, lúc đã lớn khôn tôi mới hiểu đó chính là chân dung của chiến tranh, của tử thần.
Mấy hôm sau đó cha con chúng tôi dắt díu nhau về Nam Định. Đó vừa là quê nội, vừa là quê ngoại tôi.
Bố tôi gửi chúng tôi ở chỗ ông anh ruột của ông, để tiếp tục lên đường làm nhiệm vụ.
Bác giai tôi là một nhà thầu khoán tài ba và cũng là người giàu có nhất nhì Nam Định lúc bấy giờ.
Căn nhà của ông rộng mênh mông, ăn thông từ phố Hàng Mâm sang phố Hàng Tiện. Từ những năm ba mươi ông đã có xe ô-tô riêng. Cái ga-ra để xe sau này cũng trở thành dinh cơ của một gia đình năm, sáu người. Gia đình bác chỉ có bốn người: bác giai, bác gái, chị Kim con gái duy nhất của ông bà và thằng con đầu lòng của chị, lớn hơn thằng Kính nhà tôi ba tuổi, nhưng lại có đến năm người giúp việc: anh xe, anh bếp, chị vú, chị sen và bác sốp-phơ.
Anh con rể của nhà này cũng là một người có học, đã đỗ đến Đip-lôm, nhưng không giàu có và thiếu tự trọng. Anh đã mượn nhà, mượn bố mẹ, mượn mối lái để cố lấy bằng được cô con gái độc nhất nhà tỷ phú. Sau hôn nhân, những lớp phấn son bị cạo rửa, anh lộ nguyên hình là một tên hèn hạ, bị cả nhà vợ khinh rẻ. Hàng tuần anh được phép đến thăm vợ con giữa những lời sỉ vả thậm tệ và cay độc.
Lúc từ giã bố, chị em chúng tôi ở lại với bác ruột. Đó chính là thời kỳ cay đắng nhất trong suốt tuổi thơ của chúng tôi mà những dấu ấn còn in lại rõ nét như những vết sẹo do bị đóng dấu chín, không thể phai mờ được.
Cũng do gia đình bác tôi rất giàu có, sự giao tiếp tất cũng thuộc về tầng lớp thượng lưu. Bố tôi dù là em trai độc nhất của ông nhưng chẳng được ai trong nhà nói đến bao giờ. Người ta chỉ hay nhắc đến chú Khoát người được ký vào giấy bạc Đông Dương, rồi chú Phán Trinh, bác Phúc Lai, bác Tùng Ngọc.
Chị em chúng tôi được ở nhà dưới chung với chị sen, anh bếp, với lý do trẻ con bẩn thỉu, hôi hám, và tất nhiên cũng chẳng thể được ngang hàng với họ. Dưới con mắt của bác gái và chị Kim, chúng tôi chỉ là đồ ăn hại. Chúng tôi được dặn dò rất kỹ là không bao giờ được lên nhà trên, lên phòng khách, không được tự động đến gặp bác giai và nhất là không bao giờ được xuất hiện trước mặt khách khứa của hai bác. Trên gác lại càng là nơi cấm kỵ. Trên ấy là buồng ngủ của hai bác, là buồng riêng của chị Kim, trên ấy cũng là điện thờ to lớn và uy nghi. Cả nhà bác thờ Phật và cả nhà bác chăm chỉ sớm hôm tụng niệm. Chị Kim lấy chồng từ năm mười sáu tuổi, mười bẩy tuổi chị đã có con, chị hát rất hay, thường hát theo cái máy hát để ở góc phòng khách, còn tụng kinh thì thật là tuyệt diệu. Sau này có dịp tiếp xúc với nhiều nhà tu hành chuyên nghiệp, sư trẻ, vãi già, tôi thấy chưa có ai tụng kinh hay đến thế. Nghe tiếng chị gõ mõ tụng kinh người ta như lạc vào một thế giới huyền ảo, lung linh, tâm hồn thư thái và đột nhiên mọi khổ não bị rũ bỏ, mọi cay đắng không còn nữa.
Đối với trẻ thơ thì vật chất cũng chỉ là một phần, vì có đứa trẻ con nhà nghèo nào lại đau khổ lắm với những thứ chúng không có được nếu như gia đình không ruồng bỏ chúng, đối xử tàn tệ với chúng.
Một lần thằng Kính còn nhỏ quá chưa ý thức được sự cách biệt ấy, lại chót quên lời dặn dò của người lớn, dám đến gần thằng con chị Kim và nghịch vào đồ chơi của nó. Thế là cả ba chị em chúng tôi đã phải một trận đòn rất đau rồi nhốt vào nhà xí. Nếu như buổi tối đó, ông bác không về nhà, vào đi tiểu thì chắc họ đã quên mất ba đứa trẻ bị giam và nhịn đói suốt một ngày ròng.
Đó cũng là lần đầu tiên ông bác mắng vợ trước mặt chúng tôi. Ông cố nén giọng nói nhỏ để nhắc cho bà vợ nhớ lại rằng nhà ông bà đang ở đây, một nửa là đất của căn nhà Từ Đường mà các cụ để lại, rằng thằng Kính là người thừa tự duy nhất hợp pháp của dòng họ, nó sẽ thừa kế gia sản này để thờ cúng tổ tiên. Bởi vì ông tuy là trưởng họ nhưng không có con giai, rằng do thù ghét cha tôi là người đã trừng trị tình nhân của bà khi bà ngoại tình và do khinh ghét bà nên ông không muốn có con với bà nữa, rằng cha tôi vẫn gửi tiền lương về để nuôi nấng chúng tôi.
Cũng do cơn giận ấy mà chúng tôi mới biết tại sao bác gái lại căm ghét và đối xử tàn tệ với chúng tôi đến như vậy. Nhưng dẫu sao chúng tôi vẫn chỉ là những đứa trẻ, vẫn cố phải nuốt đi sự thèm khát trước những bữa ăn thừa mứa mà gia đình bác không sao dùng hết được và cả những đồ chơi đẹp đẽ mà thằng cháu ngoại quý hoá của ông bà ấy được nghịch.
Ít lâu sau chiến sự cũng lan đến tận Nam Định, gia đình bác tôi cũng phải tản cư ra Đồng Thuỷ, Thái Bình. Do gia sản quá lớn, không thể đem đi một lúc hết được. Bác tôi yêu cầu bố tôi - Lúc bấy giờ cơ quan bị lộ gần như bị xoá sổ, đang đợi thời gian để khôi phục lại - ở lại Nam Định trông nom và chuyển dần tài sản ra Đồng Thuỷ. Chúng tôi thì tất nhiên là phải đi theo bác.
Dù khóc lóc, kể lể với bố, nhưng do nghĩ chúng tôi là trẻ con đứa nào mà chả muốn ở với bố mẹ. Lại nữa bây giờ phải ăn chực ông anh, nên bố tôi đã quyết định ở lại Nam Định trông nom giữ gìn gia sản cho anh, để đổi lấy gạo nuôi mấy đứa con còn nhỏ.
Ở Đồng Thuỷ tuy chẳng còn chị sen, anh bếp nữa, chúng tôi vẫn phải ăn riêng, ở riêng, hàng ngày phải chịu cảnh đoạ đày. Bữa ăn thường ngày là ngô sắn, tương cà mà chẳng bao giờ được no cả. Mỗi lần bê bát đĩa ra ao rửa thì những thức ăn thừa trên mâm của bác sẽ là niềm vui không bờ bến của mấy đứa chúng tôi. Một lần thằng Kính đưa tay cố vớt lấy một miếng bì đầy lông ở dưới ao mà tôi vất đi không muốn cho nó ăn, đã trượt chân ngã xuống nước chìm nghỉm. Nếu như bấy giờ tôi không kêu toáng lên và một anh người làng đi qua đấy không nhảy xuống nước vớt kịp thì thằng Kính chắc đã chết đuối rồi.
Tám, chín tháng sau bố tôi đã chuyển gần hết tài sản cho ông anh và cũng đã bắt được liên lạc với đơn vị, chuẩn bị lên đường đi công tác. Trước lúc ra đi ông có ghé thăm chúng tôi. Trước mặt ông là ba đứa ăn mày gầy gò, rách rưới, ông đã to tiếng với anh mình và rứt khoát dắt con ra đi.
Nhưng hoạt động trong ngành Công an mà lại có ba đứa con còn nhỏ đi theo đã làm ông vô cùng lúng túng. Nhưng rồi sau ông cũng thu xếp gửi con vào nhờ một gia đình nông dân khá giả và tốt bụng ở làng Lường, cạnh chợ huyện Hưng Nhân, Thái Bình.
Thời kỳ này chị em chúng tôi phải sống gần như độc lập. Ba bốn tháng, bố mới về thăm một lần, có về cũng chỉ mang theo ít thóc vì bấy giờ lương trả cho những người đi kháng chiến là thóc. Tuy vậy đấy lại chính là thời kỳ đầm ấm nhất, hạnh phúc nhất trong tuổi thơ của ba chị em chúng tôi. Ông bà chủ nhà là những nhà nông giỏi làm ăn, khá giả, có bát ăn bát để, ông chủ đã lấy tới ba vợ đẻ đến gần chục cô con gái mà chẳng có một mụn con giai vì thế quý thằng Kính nhà tôi lắm. Họ cho ba chị em ở hẳn gian nhà trên. Thường xuyên chăm nom đến bữa ăn, giấc ngủ của ba đứa trẻ ở nhờ, lúc thì cây mía, lúc đĩa xôi, thật là những người nhân hậu.
Mãi sau này, khoảng năm 1960, cậu Kính lúc bấy giờ đã trưởng thành có đưa mẹ tôi về Thái Bình tìm đến thăm lại ông bà chủ nhà.
Lúc gặp lại, ông cụ đã già lắm rồi - Sau hồi cải cách ruộng đất lại bị chính anh cháu ruột được ông cụ nhận làm con nuôi để hưởng thừa tự moi móc, đấu tố ông. Ông đã ôm lấy cậu em tôi mà khóc mà kể lại những nhọc nhằn, gian truân của cuộc sống.
Đến bây giờ tóc chị em chúng tôi đã bạc cả mà tôi vẫn không sao lý giải được - Tại sao ở đời lại chỉ có người tốt, người hiền lành là chịu khổ sở. Còn những kẻ độc ác có mấy khi bị trừng trị. Và cuộc đời chỉ có đến lúc thật cơ cực, thật khó khăn, con người mới lộ hết bản chất cũng như bộc lộ hết khả năng của mình.
Từ một cô bé thành thị được học ở trường Đầm, bỗng chốc tôi biết nuôi nấng hai đứa em. Biết đội thúng đi mót khoai, biết bắt cua về muối mắm. Còn nhớ một lần, mắm có mùi không thơm, hai đứa em chê, tôi bèn muối lọ khác cho chúng ăn, còn lọ mắm đó cứ tiếc rẻ ăn một mình đến hết. Lại một lần đi mót khoai được nhiều quá, tham đội cả, trượt chân ngã vật trên bờ ruộng, có người về bảo với chúng nó là tôi bị ngã gãy cổ. Hai đứa em tôi ra bờ ruộng ôm lấy tôi mà khóc, mà lo sợ. Mãi tận tối mịt chị em tôi mới lần về được nhà làm cả nhà ông chủ vừa lo, vừa buồn cười.
Cuộc chiến tưởng sẽ kết thúc sớm sủa, nào ngờ ngày càng ác liệt và trong một trận càn lớn của Pháp - trận Trái Quýt 1952 ở Thái Bình - bố tôi đã bị bắt.
Chẳng thể ở nhờ, ăn nhờ ông bà chủ tốt bụng và nhân hậu mãi. Chị em chúng tôi lần về Nam Định hy vọng sẽ tìm được sự đùm bọc của họ hàng, lúc bấy giờ tôi đã mười chín tuổi. Nhưng thật không ngờ khi tôi tìm đến họ nội, họ ngoại thì đều bị chối bỏ.
Lúc bấy giờ ai lại muốn dây với Việt Minh, cưu mang con cái Việt Minh, mà lại là một gia đình Việt Minh không còn hy vọng chút nào nữa - mẹ chết, bố thì bị địch bắt, cầm tù biết ngày nào ra.
Gia đình bác tôi cũng đã về Nam Định. Nhà cửa bị phá sập cả. Sau khi gặp lại, và rất tin tưởng ở cháu ruột, bác giai đã cùng tôi đào chỗ giấu của ở gầm lò sưởi trong phòng khách, moi được một âu lớn đầy ắp vàng, cỡ phải bằng cái thúng khảo. Ông quyết định đưa chúng tôi về ở với gia đình ông, hiện đang nhờ nhà một người quen tại 23 hàng Sắt Dưới.
Mặc dù không muốn nhưng bấy giờ chúng tôi còn biết đi đâu nữa.
Theo sự sắp xếp của bác gái, tôi đã lớn phải tập buôn bán để lập thân, bà nhờ một người dạy cho tôi cách nấu chè đỗ đen mang ra chợ Rồng bán. Con Duyên và thằng Kính thì ở nhà sai vặt. Tiếng là sai vặt nhưng thực sự là làm đầy tớ trong nhà. Con Duyên đã mười lăm, mười sáu tuổi đi chợ thổi nấu, thằng Kính mười hai, mười ba tuổi thì quét dọn và quạt hầu.
Lúc bấy giờ chị Kim đã sinh thêm cháu thứ hai.
Những hôm đi chợ về nhìn thấy thằng Kính gầy gò, bé nhỏ đứng quạt cho hai đứa cháu to lớn, khỏe mạnh đang nằm ngủ mà lòng tôi cứ xót như dao cứa. Có lần vừa quạt, vừa ngủ gà ngủ gật, không thấy mát thằng cháu đang nằm đã đạp cả bàn chân vào mặt thằng cậu khốn khổ, khiến nó ngã vật xuống đất, vỡ đầu máu chảy lênh láng và làm thức tỉnh ông bác ruột đang ngồi tụng kinh, gõ mõ thả hồn phiêu diêu vào cõi Niết bàn. Khi ông giật mình quay ra hỏi thì lại được nghe một kịch bản sáng tác hoàn toàn khác hẳn thế.
Do tần tảo, dần dà tôi cũng đã trả được nợ mua đỗ, mua đường, chỉ còn có cái nồi là phải mượn bà bác. Đúng lúc ấy bà ấy ra lệnh cho tôi phải về ăn cơm ở nhà để bà không mang tiếng, và từng bữa phải góp tiền ăn, mà định mức lại gấp hai, gấp ba lần giá một bữa ăn ngoài chợ. Việc này bà không muốn cho ông chồng biết. Tôi uất ức nhưng không làm sao để tránh được. Và thế là cơ may mà tôi ao ước dần tích luỹ để ra ở riêng nuôi các em đã tan biến thành mây khói. Vì thế có một bữa tôi cố tình trả tiền cơm bà bác ngay trước mặt ông chồng, hôm đó ông ấy cũng chửi cho bà ta một trận thậm tệ.
Sáng sáng trước khi đi chợ bao giờ tôi cũng phải múc ra một mâm để phần cho nào là bác giai, nào bác gái, nào chị , nào cháu...thế là mất đứt phần ba nồi chè, còn hai đứa em tôi thì chỉ thỉnh thoảng mới được vét nồi.
Còn nhớ một lần do cố gắng quá sức tôi đã ngã vật xuống hè đường ngất xỉu, được bà con vực vào nhà thương làm phúc. Tin ấy bay về, bà bác đã dãy lên như đỉa phải vôi vì thương cho cái nồi đồng của bà đang lưu lạc.
Hàng tuần sau đó, con Duyên phải đưa cơm cho tôi, vì lúc bấy giờ nhà thương chỉ cho những người lang thang, cơ nhỡ không nơi nương tựa ăn, chứ tôi là cháu gái của một nhà tỷ phú lừng lẫy thành Nam, thì làm sao lại phải ăn cơm của nhà thương làm phúc. Có nhiều bữa khi thấy em gái xách cơm vào, khi giở ra tôi chỉ thấy mấy miếng cháy đen, vài quả cà kho, do đắng miệng tôi không sao ăn được, thì thật không ngờ những thứ ấy lại trở thành những xuất bồi dưỡng đặc biệt cho nó. Nằm nhìn em nuốt lấy, nuốt để miếng cháy đen mà tôi không làm sao cầm được nước mắt.
Thằng Kính cũng đã được tập sự đi bán kem, bán báo và cũng thật không ngờ một thằng bé gầy gò, rách rưới gần như một thằng câm lại rất có duyên bán hàng, nó đứng ở đâu hàng bán cũng chạy băng băng. Kể cứ như vậy thì nó cũng đỡ bị hành hạ và đỡ đói khát. Song cũng thật không may, lại có một người quen nhận ra nó. Thế là nó lại phải trở về nhà để mà làm quần quật, để mà nhịn đói, nhịn khát, để mà bị đánh đập và để mang tiếng là ăn hại.
Có một chiều lúc ở chợ về gặp một cơn mưa bất chợt đổ xuống, tôi thấy thằng Kính ngã sấp mặt xuống mép rãnh cuối sân, tôi hoảng hốt chạy ra định đỡ em dậy thì bị giữ lại. Bà bác tôi đang hầm hầm đứng cạnh đấy nói cho tôi biết rằng: do sai thằng Kính quét sân, nó đóng kịch giả vờ ngã chứ không phải nó ngã thật. Thật cũng may do nằm ngoài sân mưa bị lạnh thằng Kính đã tỉnh lại và đến khi nó loạng choạng đứng dậy tay cầm chổi sợ hãi nhìn về phía bác gái thì mặt nó đầy những máu là máu. Do hôi hám nên không kể nóng lạnh, ba chị em tôi chỉ được một manh chiếu nằm ở ngoài hè. Tảng sáng chúng tôi được đánh thức dậy để đun nước cho bác uống và rửa ráy. Nhưng chẳng bao giờ bác gái dám sờ tay vào chúng tôi, vì thế bác thường phải dùng guốc để gọi. Cũng thật không may vào một sáng mùa đông, khi cái guốc của bác thúc trúng vào cột sống tôi, tôi đã giật mình ưỡn người đẩy vào thằng Kính nằm giữa và huých rơi con Duyên nằm ngoài cùng xuống sân gạch sâu gần một mét. Con bé bị ngã đau bất ngờ, chết ngất không còn ngọ nguậy được nữa. Tưởng em chết, tôi nức nở khóc nhưng bà bác cấm không cho khóc. Chị em chúng tôi cõng nhau xuống bếp, cũng may có một bà hàng xóm biết chuyện xoa dầu, giật tóc thế rồi con Duyên cũng đã sống lại.
Trong bữa cơm bao giờ bà bác cũng ngồi đầu nồi, mỗi đứa chỉ được đưa bát hai lần, đấy là quy ước. Đang tuổi ăn, tuổi lớn mà ba chị em chúng tôi như những cái bóng vật vờ, câm lặng.
Những miếng xương của bác, của chị và của các cháu nhả ra đều được đưa vào bát chúng tôi, “để ăn lại cho khỏi phí”. Nhai được thì nhai, chẳng nhai được thì nuốt, chứ không đứa nào được bỏ đi. Những miếng xương dù đã gặm rồi đó đối với chúng tôi cũng chẳng có gì đáng phàn nàn cả, vì đói thì có cái gì không dám ăn, có cái gì là không ăn được.
Duy chỉ có miếng xương ở miệng bác gái nhả ra là thật sự kinh khủng, bởi vì bà là người nghiện rượu nặng. Cách uống rượu của bà ta cũng thật đặc biệt. Trước bữa ăn bà rót một bát lớn rượu, tìm vào chỗ khuất, một tay bịt mũi, tay kia cầm bát rượu đưa lên miệng nhăn nhó, uống một hơi hết cả bát mà không hề phải nhấm nháp gì. Trông bà uống rượu, hệt như cái cảnh một bà hoàng hậu thất sủng, bị vua bắt uống thuốc độc tự tử, vừa sầu thảm, vừa quái dị. Tuy thế chẳng bữa nào bà bỏ rượu cả. Sau đó ra mâm bà chỉ gắp bát nọ, bỏ bát kia, tiếp cho chồng, cho con và cho mấy đứa cháu ngoại của bà ấy, và còn tiếp cho cả chúng tôi nữa, với những miếng xương mà cả nhà bà không ăn được nữa.
Bà lại là người nghiện trầu thuốc, ăn hết miếng này lại cho miếng khác vào miệng, thành ra miếng xương từ mồm bà nhả ra đỏ lòm như một miếng thịt tươi vừa rơi từ miệng một con ác thú, sặc sụa mùi rượu, sặc sụa mùi trầu không, mùi thuốc lào sống. Từ đó, khi miếng xương mà bà chuẩn bị nhả ra, thì như một tín hiệu tự động cả ba chị em chúng tôi đều bỏ bát xuống, mời hai bác để đứng lên, mặc dù còn rất muốn ăn nữa. Có lần thằng Kính vào sau, ăn chậm phải nhận miếng xương của bác gái. Nó nhắm mắt nuốt chửng, nhưng miếng xương như một con vật còn sống cứ nhét vào lại nhảy ra. Biết không thể “cố đấm ăn xương” được, nó đành đứng dậy nói dối là đau bụng. Thế là bữa đó, vừa bị đói, vừa bị mắng là làm bộ không chịu ăn cái ăn mà bác cho.
Tác dụng ăn trầu kể ra cũng không phải là ít. Các cụ thì nói ăn trầu vừa làm cho chắc răng, lại vừa làm cho môi thắm, má hồng. Nhưng miếng trầu lại in vào trí nhớ trẻ thơ chúng tôi những ấn tượng khác hẳn.
Một hôm bác giai đang ngồi tụng kinh gõ mõ trên phản, thằng Kính đứng quạt cho thằng cháu lớn ngủ, thằng cháu bé uống xong cốc nước chanh, nghịch cái cốc trong chậu nước, bà bác sai thằng Kính rửa cốc cất đi. Nhưng do thói quen được nuông chiều, nên thằng cháu đã cưỡng lại, giằng cái cốc rồi đập vỡ ra. Thế là bà bác nhảy sổ vào thằng Kính đè xuống, một tay túm tóc một tay cầm guốc ghè vào gáy nó. Nó thét lên đau đớn rồi gục xuống ngất đi. Tiếng thét đó đã lôi ông bác đang trên đường lên đất Phật để tìm Cực lạc phải trở lại nơi trần ai đầy khổ ải, bi thương này. Đó cũng là lần duy nhất, để cứu thằng cháu “thừa tự” suýt chết, ông đã tát bà một cái thật đau và thế là quết trầu được phun ra khắp nơi. Bà thất thanh la lên là ông ấy bênh cháu muốn giết bà cướp của. Việc rồi cũng ổn thoả dần, chỉ khổ cho thằng Kính vừa đau, vừa có tội vu oan, giá hoạ cho bác gái. Cái biếu trên đầu nó đâu phải do bà đập, mà là vì cái đầu thằng ăn hại này từ lúc sinh ra đã có biết bao nhiêu là biếu rồi.
Chị em tôi sống trong đói khát, đòn vọt và thù hận tới hàng mấy năm ròng.
Chúng tôi sống được là do khát khao được sống mà ở bất kỳ đứa trẻ nào cũng vậy, giống như những nhành cây non càng bị vùi dập lại càng cố vươn lên để tồn tại. Lại cũng là vì nhờ có hai cái hốc gài then cổng như hai cái “hầm bí mật thần kỳ” mà phần con Duyên thì ở bên phải, thằng Kính ở bên trái, cứ tối nhọ mặt người, ra đó cho tay vào thì thế nào cũng có một củ khoai hoặc một khoanh sắn, cũng không biết là của ai cho nữa. Đặc biệt hơn là còn vì nhờ có cái nồi gang để ở chỗ chứa nước gạo trong khu nhà này, bao giờ cũng có hai nắm cháy chim chim mà bà Phồ hoặc cô Hoa lén để lại cho. Bà Phồ là một người đàn bà Việt lấy chồng Hoa kiều, chồng chết chỉ để lại cho bà một cô con gái là cô Hoa, một cô gái thật đẹp và thật tốt.
Những nắm cháy, mẹ con cô Hoa để lại trong cái nồi gang mà hai đứa em tôi phải thủ vào nhà xí mới dám ăn, làm cho cậu Kính nhiều năm sau này khi đã là một kỹ sư vẫn thường nhắc tới một cách xúc động.
Mãi tận cuối năm 1953, một hôm đang bán chè ở chợ Rồng tôi được người ta báo cho biết là mẹ tôi vẫn còn sống đã từ Hải Phòng về tìm chúng tôi. Tôi không thể nào tin được. Mẹ tôi đã bị Pháp bắn chết rồi cơ mà. Nghe tin ấy các bà, các chị khách quen của tôi rủ nhau đến, người ăn cho một bát, người hai bát rồi ai còn nợ bao nhiêu cũng trả hết. Họ thấy tôi khóc, họ cũng khóc. Thật quý hoá biết bao những giọt nước mắt nhân hậu ấy.
Khi về đến nhà tôi thấy một bà ăn vận khá giả, ngồi nhìn thằng Kính đứng quạt cho thằng cháu đang nằm ngủ mà khóc ròng ròng. Lúc thấy tôi về, bác giai tôi bảo:
- Đấy con Hạnh nó về đấy.
Và không thể nào ngờ được khi bà quay lại, tôi nhận ra đúng là mẹ mình thật.
Hai mẹ con tôi đã vồ lấy nhau mà khóc nức lên, đến lúc ấy thằng Kính mới dừng tay quạt và mới thấy hai hàng nước mắt dòng dòng trên má nó.
Sau này mẹ tôi kể lại rằng lúc mới gặp nó, khi bà vồ lấy con để khóc thì thằng bé sợ hãi lùi lại nói lí nhí:
- Xin bà để cho cháu quạt, không thì cháu lại phải đòn.
Và thật xót xa ngay khi ông bác tôi hai, ba lần bảo nó:
- Đấy là mẹ cháu đấy!
Nó vẫn không dám rời cái quạt và không dám đến để xà vào vòng tay bà. Trong thâm tâm nó, mẹ không còn nữa, mà mẹ thì phải giống cái bà trong tờ giấy bạc Gánh dừa cơ, chứ đâu có sang như bà này.
Sau đó mẹ tôi phải lột cả hoa tai, cả nhẫn để chuộc chúng tôi ra.
Mẹ con chúng tôi đưa nhau về Hải Phòng sống với nhau, hàng tháng sau vẫn không làm sao quen được với hiện tại, vẫn cứ nơm nớp giật mình mỗi khi có ai nói to.
Thằng Kính ốm quỵ hàng tháng, cũng may mà rồi cũng qua khỏi được.
***
Năm nay tôi đã ngoài tám mươi rồi, con cháu đầy đàn. Hôm mới rồi, cậu Kính cùng anh con trai duy nhất của cậu ấy, rủ tôi lọm khọm về mãi Phủ Nam Sang (bây giờ đổi là Huyện Lý Nhân) tỉnh Hà Nam để tìm lại họ nội.
Tôi nói với anh cháu, mà như nói với chính mình:
- Cháu đã có cái tâm muốn tìm về cội nguồn. Bác với bố anh, chả lẽ lại giữ mãi sự oán hận trong lòng, thì làm sao cho phải!
Gia đình mình gốc họ Hà. Ông nội chúng tôi tức là cụ nội anh, có công với nước. Được vua cho đổi sang họ vua (đất Hà Nam, Nam Định là đất phát tích nhà Trần). Từ đấy mới mang họ Trần. Nhưng mình vẫn không thể bỏ gốc gác. Vì thế họ mình mới có cái tên kép là Trần Hà. Anh đã hiểu chưa?
- Thưa bác cháu đã hiểu rồi ạ.
Anh cháu trai duy nhất của ngành trưởng họ Hà cũng đã trên bốn mươi tuổi của tôi cung kính trả lời.  


                                                         Hà Nội, 1994.

Liên hệ:      DĐ: 0915140055


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét