Khi mẹ tôi giao cho tôi một
trăm đồng bạc Đông Dương và hai đồng cân vàng, dặn dò trông hai đứa em, để bà
về Hải Phòng cho lợn gà ăn rồi sẽ trở lại với ba chị em chúng tôi, thì lúc đó
tôi mới là một cô bé mười hai tuổi, con Duyên lên tám và thằng Kính mới có năm
tuổi.
Cuộc kháng chiến toàn quốc
bùng nổ ở Hải Phòng, vào khoảng giữa năm 1945. Trưa đó, tôi vừa đi học về thì
thấy mẹ tôi hoảng hốt nhồi một ít quần áo vào mấy cái dó, đóng vội cửa nhà lại,
rồi cũng vội vàng lôi ba chị em tôi để đi tản cư theo dòng người cuồn cuộn đổ
ra các ngả ngoại thành, không còn kịp đợi bố và anh cả tôi đi làm về nữa.
Mẹ tôi đưa chúng tôi lên Rế
cách Hải Phòng gần chục cây số về phía Hải Dương nơi bà có quen vài người ở đó.
Được hai ngày thì bà sốt ruột sợ mấy con gà, con lợn ở nhà chết đói, thế là bà
gửi chúng tôi lại để trở về nhà.
Đó là lần cuối cùng chúng tôi được thấy mẹ, để
rồi sau này những ngày giỗ của bà, mấy chị em tôi lại đặt đồng bạc Gánh Dừa lên
sau mấy nén hương, nhìn hình người đàn bà vấn khăn mà tưởng nhớ về mẹ mình.
Ít lâu sau chiến sự lan ra, ở
Rế cũng không còn yên ổn nữa, chủ nhà cũng gói ghém đồ đạc để tản cư. Chị em
tôi, đành nhắm mắt đi theo dòng người rối loạn ấy, để rời càng xa Hải Phòng bao
nhiêu càng tốt bấy nhiêu.
Đi trong đêm, đầu đội dó quần
áo, tay dắt em, đạn lửa vạch sáng trên nền trời tối đen làm thành một cái lưới
lửa khổng lồ biến đổi không thôi.
Tiếng gọi nhau, tiếng kêu vì
vấp ngã, tiếng khóc vì lạc nhau, tạo thành một màn âm thanh thật sầu thảm và
rối rắm.
Tôi còn nhớ lúc đầu tôi đội
dó quần áo, tay lôi con Duyên, con Duyên thì lôi thằng Kính, lếch thếch chạy
theo dòng người hỗn độn. Sau thằng Kính không đi được nữa, tôi đành trút cái dó
lên đầu con Duyên để cõng em. Lúc đầu là mất guốc, mất nón, sau cái dó duy nhất
cũng chẳng còn. Một mình tôi vừa cõng em giai, vừa lôi em gái. Cũng chẳng biết
đã ăn những gì, ngủ ở đâu mà một hôm khi hỏi ra thì chúng tôi đã ở Cẩm Giàng
cách nhà đến năm mươi cây số. Chị em chúng tôi làm sao đã không lạc nhau, làm
sao đã không bị đạn, không chết. Nghĩ lại thật không sao tưởng tượng nổi. Đến
lúc nghỉ ngồi nhìn lại nhau, chúng tôi không thể nào nhận ra nhau dưới cái bộ
dạng thiểu não và bẩn thỉu như một lũ ăn mày ấy nữa.
Quả thật sau đó, đói quá
chúng tôi đã phải đi ăn xin ở ga Cẩm Giàng. Khổ nỗi bấy giờ chẳng ai lo nổi
thân mình thì làm sao còn nghĩ đến người khác được nữa. Mấy ngày sau chúng tôi
chỉ còn là những cái bóng vật vờ.
Thật may, ông Dị một người
hàng xóm của gia đình tôi cũng chạy về đây nhận ra được. Ông bà Dị đem chúng
tôi về ở cùng còn chúng tôi thì như vừa trải qua một cơn ác mộng.
Ông Dị quê ở Cẩm Giàng, ông
đã đứng tuổi, tính tình bộc tuệch. Hai vợ trước nghe đâu quê ở Quảng Yên, bà ba
quê đâu không rõ. Đó là một người đàn bà nửa tỉnh, nửa quê, nói như vậy vì cái
hay của người ở tỉnh thì bà không có được, còn cái gì dở của người dân quê thì
bà vẫn giữ nguyên vẹn. Tuy chỉ là vợ ba của một ông thư ký quèn, nhưng bà lại
cố học đòi cái vẻ đài các của một bà phán giàu có.
Bà chưa có con nhưng đã có
một cái bụng chửa thật to. Lúc ấy tôi cứ tự hỏi không biết làm sao mà bà lại
vác được cái bụng to như thế, để đi xa như thế. Ông Dị tản cư về nhờ nhà ông
Sanh là anh họ ông ở Cẩm Giàng. Chị em tôi ở với ông bà Dị được một tuần, thì
đã ba bốn lần bà ba hỏi tôi có tiền và vàng không? Tôi đưa cho bà 50 đồng bạc
Đông Dương, chỗ còn lại tôi dấu đi thật kỹ. Đã nhiều đêm ngủ cạnh bà, nửa đêm
tôi chợt thức giấc vì bị bà lần cạp quần. Dù còn đang rất thèm ăn, thèm ngủ,
nhưng với sự nhanh nhạy và láu cá của một đứa con gái mười hai tuổi, bà ba vẫn
không tìm được chỗ tôi dấu của. Bà bèn thay đổi chiến thuật, rủ tôi đi tắm ở ao
làng rồi lừa lúc tôi còn đang mải bì bõm dưới nước bà lẻn lên trước lần tìm kho
báu, nhưng vẫn không lấy được. Bà bắt đầu tỏ vẻ khó chịu.
Đúng lúc ấy ông Sanh cho tìm
tôi vào gặp.
Ông là một người đàn ông to
cao, đĩnh đạc, rất giàu và cũng có đến ba bà vợ.
Đứng trước ông trong một ngôi
nhà đầy đồ đồng sáng bóng, bàn ghế, giường tủ đều trạm trổ, khảm trai lóng
lánh, tôi cảm thấy quá nhỏ bé và rụt rè.
Ông ân cần nắm tay tôi nói:
- Tôi có biết bố mẹ cháu. Tôi
là một người đứng đắn và giàu có. Giàu có thì cháu thấy rồi, nhưng còn có đứng
đắn, đáng tin cậy chưa thì cháu chưa thấy được phải không? Nhưng dù sao cũng
phải liều lĩnh tý chút, bởi vì đang có chiến tranh mà. Bây giờ thế này, tôi mời
cháu đến đây để nói với cháu một chuyện. Cháu bao nhiêu tuổi rồi nhỉ? Mười hai
à! Ừ, còn nhỏ quá, nhưng dù sao cũng đã là chủ của một gia đình rồi. Thì đấy
thôi, cháu chẳng là chị của hai đứa em là gì! Và cháu cũng lớn khôn nhất trong
ba chị em phải không? Tôi biết cháu có một ít tiền và một ít vàng, cháu đã giấu
rất kỹ nhưng tôi vẫn biết, bởi vì tôi là người lớn mà. Bây giờ thế này cháu hãy
mang gửi tôi chỗ đó, tôi hứa danh dự sẽ không làm suy suyển tài sản của cháu
một xu nhỏ và cả chuyện này nữa, từ hôm nay, ba chị em cháu sẽ sang ở bên này
với chúng tôi. Bởi vì chú thím Dị có khó khăn trong sinh hoạt, cũng là dân tản
cư mà! Cháu vẫn chưa thật tin tôi sao. Làm thế nào bây giờ nhỉ? Hay cháu đem
gửi chú Dị vậy, chú ấy là hàng xóm của bố mẹ cháu mà.
À, thế ra là cháu không có
tiền và vàng thật à! Ừ, thì thôi không gửi nữa vậy. Nhưng ba chị em cháu thì sẽ
sang bên này ở chứ. Thế là thoả thuận rồi nhé, ngay từ tối nay.
Và ngay từ tối đó, ba chị em
chúng tôi được ông Sanh nuôi nấng. Mãi hơn tháng sau, khi đã rất yên tâm, tôi
mới rụt rè nói với ông xin cho gửi chỗ của cải mà mẹ tôi để lại. Ông cảm động
ôm lấy tôi xoa đầu mà không nói gì cả. Dù sao bấy giờ tôi cũng chỉ là một cô bé
mới mười hai tuổi đầu, mà lại còn hai đứa em nhỏ nữa.
Ba bốn tháng sau, bố tôi lúc
bấy giờ thoát ly công tác trong một đơn vị Công an, đã xin phép đơn vị để đi
tìm con, vì ông được tin mẹ tôi khi trở về Hải Phòng bị mật thám phục kích bắt,
sau khi chúng đã lục soát nhà, tìm được truyền đơn và lựu đạn của ông khi hoạt
động bí mật còn để lại. Do hỏi han những người tản cư và dò tìm nhiều ngày, bố
tôi đã tìm được chúng tôi ở nhà ông Sanh mãi tận Cẩm Giàng.
Cha con chúng tôi đã ôm lấy
nhau mà khóc như mưa, kể cho nhau nghe về mẹ, về anh tôi và về những ngày lang
thang, cơ nhỡ.
Anh tôi lúc bấy giờ mới mười
lăm tuổi đang học nghề thợ điện ở Hàng Kênh và hôm Hải Phòng bùng nổ chiến sự,
anh đã trốn đi theo một đơn vị bộ đội.
Mãi mấy năm sau này, khoảng
năm 1949, bố tôi mới nhận được một lá thư của anh viết cho bà cô ruột, nói là
anh đang ở Trung đoàn 36, Đại đoàn 308. Anh xin bố tha lỗi vì đã trốn đi bộ đội
mà không xin phép gia đình, lúc ấy anh cũng chưa biết là mẹ tôi đã bị bắt.
Anh đi đến mãi tận mùa xuân
1954, trong một trận mở màn của chiến dịch Điện Biên Phủ, khi truy kích địch ở
mặt trận Thượng Lào, anh đã ngã xuống hy sinh trong vòng tay cô y tá đơn vị.
Lúc bấy giờ anh mới hơn hai mươi tuổi, còn rất trẻ, chưa kịp biết vị ngọt ngào
và cay đắng của tình yêu. Anh mất đi làm thành một tổn thất không gì bù đắp nổi
đối với gia đình tôi. Mất mát đã tạo thành những lỗ hổng chẳng thể hàn vá được,
nó cứ toang hoác trông thật đau đớn và ghê tởm. Mãi sau này, lúc đã lớn khôn
tôi mới hiểu đó chính là chân dung của chiến tranh, của tử thần.
Mấy hôm sau đó cha con chúng
tôi dắt díu nhau về Nam
Định. Đó vừa là quê nội, vừa là quê ngoại tôi.
Bố tôi gửi chúng tôi ở chỗ
ông anh ruột của ông, để tiếp tục lên đường làm nhiệm vụ.
Bác giai tôi là một nhà thầu
khoán tài ba và cũng là người giàu có nhất nhì Nam Định lúc bấy giờ.
Căn nhà của ông rộng mênh
mông, ăn thông từ phố Hàng Mâm sang phố Hàng Tiện. Từ những năm ba mươi ông đã
có xe ô-tô riêng. Cái ga-ra để xe sau này cũng trở thành dinh cơ của một gia
đình năm, sáu người. Gia đình bác chỉ có bốn người: bác giai, bác gái, chị Kim
con gái duy nhất của ông bà và thằng con đầu lòng của chị, lớn hơn thằng Kính nhà
tôi ba tuổi, nhưng lại có đến năm người giúp việc: anh xe, anh bếp, chị vú, chị
sen và bác sốp-phơ.
Anh con rể của nhà này cũng
là một người có học, đã đỗ đến Đip-lôm, nhưng không giàu có và thiếu tự trọng.
Anh đã mượn nhà, mượn bố mẹ, mượn mối lái để cố lấy bằng được cô con gái độc
nhất nhà tỷ phú. Sau hôn nhân, những lớp phấn son bị cạo rửa, anh lộ nguyên
hình là một tên hèn hạ, bị cả nhà vợ khinh rẻ. Hàng tuần anh được phép đến thăm
vợ con giữa những lời sỉ vả thậm tệ và cay độc.
Lúc từ giã bố, chị em chúng
tôi ở lại với bác ruột. Đó chính là thời kỳ cay đắng nhất trong suốt tuổi thơ
của chúng tôi mà những dấu ấn còn in lại rõ nét như những vết sẹo do bị đóng
dấu chín, không thể phai mờ được.
Cũng do gia đình bác tôi rất
giàu có, sự giao tiếp tất cũng thuộc về tầng lớp thượng lưu. Bố tôi dù là em
trai độc nhất của ông nhưng chẳng được ai trong nhà nói đến bao giờ. Người ta
chỉ hay nhắc đến chú Khoát người được ký vào giấy bạc Đông Dương, rồi chú Phán
Trinh, bác Phúc Lai, bác Tùng Ngọc.
Chị em chúng tôi được ở nhà
dưới chung với chị sen, anh bếp, với lý do trẻ con bẩn thỉu, hôi hám, và tất
nhiên cũng chẳng thể được ngang hàng với họ. Dưới con mắt của bác gái và chị
Kim, chúng tôi chỉ là đồ ăn hại. Chúng tôi được dặn dò rất kỹ là không bao giờ
được lên nhà trên, lên phòng khách, không được tự động đến gặp bác giai và nhất
là không bao giờ được xuất hiện trước mặt khách khứa của hai bác. Trên gác lại
càng là nơi cấm kỵ. Trên ấy là buồng ngủ của hai bác, là buồng riêng của chị
Kim, trên ấy cũng là điện thờ to lớn và uy nghi. Cả nhà bác thờ Phật và cả nhà
bác chăm chỉ sớm hôm tụng niệm. Chị Kim lấy chồng từ năm mười sáu tuổi, mười
bẩy tuổi chị đã có con, chị hát rất hay, thường hát theo cái máy hát để ở góc
phòng khách, còn tụng kinh thì thật là tuyệt diệu. Sau này có dịp tiếp xúc với
nhiều nhà tu hành chuyên nghiệp, sư trẻ, vãi già, tôi thấy chưa có ai tụng kinh
hay đến thế. Nghe tiếng chị gõ mõ tụng kinh người ta như lạc vào một thế giới
huyền ảo, lung linh, tâm hồn thư thái và đột nhiên mọi khổ não bị rũ bỏ, mọi
cay đắng không còn nữa.
Đối với trẻ thơ thì vật chất
cũng chỉ là một phần, vì có đứa trẻ con nhà nghèo nào lại đau khổ lắm với những
thứ chúng không có được nếu như gia đình không ruồng bỏ chúng, đối xử tàn tệ
với chúng.
Một lần thằng Kính còn nhỏ
quá chưa ý thức được sự cách biệt ấy, lại chót quên lời dặn dò của người lớn,
dám đến gần thằng con chị Kim và nghịch vào đồ chơi của nó. Thế là cả ba chị em
chúng tôi đã phải một trận đòn rất đau rồi nhốt vào nhà xí. Nếu như buổi tối
đó, ông bác không về nhà, vào đi tiểu thì chắc họ đã quên mất ba đứa trẻ bị
giam và nhịn đói suốt một ngày ròng.
Đó cũng là lần đầu tiên ông
bác mắng vợ trước mặt chúng tôi. Ông cố nén giọng nói nhỏ để nhắc cho bà vợ nhớ
lại rằng nhà ông bà đang ở đây, một nửa là đất của căn nhà Từ Đường mà các cụ
để lại, rằng thằng Kính là người thừa tự duy nhất hợp pháp của dòng họ, nó sẽ
thừa kế gia sản này để thờ cúng tổ tiên. Bởi vì ông tuy là trưởng họ nhưng
không có con giai, rằng do thù ghét cha tôi là người đã trừng trị tình nhân của
bà khi bà ngoại tình và do khinh ghét bà nên ông không muốn có con với bà nữa,
rằng cha tôi vẫn gửi tiền lương về để nuôi nấng chúng tôi.
Cũng do cơn giận ấy mà chúng
tôi mới biết tại sao bác gái lại căm ghét và đối xử tàn tệ với chúng tôi đến
như vậy. Nhưng dẫu sao chúng tôi vẫn chỉ là những đứa trẻ, vẫn cố phải nuốt đi
sự thèm khát trước những bữa ăn thừa mứa mà gia đình bác không sao dùng hết
được và cả những đồ chơi đẹp đẽ mà thằng cháu ngoại quý hoá của ông bà ấy được
nghịch.
Ít lâu sau chiến sự cũng lan
đến tận Nam
Định, gia đình bác tôi cũng phải tản cư ra Đồng Thuỷ, Thái Bình. Do gia sản quá
lớn, không thể đem đi một lúc hết được. Bác tôi yêu cầu bố tôi - Lúc bấy giờ cơ
quan bị lộ gần như bị xoá sổ, đang đợi thời gian để khôi phục lại - ở lại Nam
Định trông nom và chuyển dần tài sản ra Đồng Thuỷ. Chúng tôi thì tất nhiên là
phải đi theo bác.
Dù khóc lóc, kể lể với bố, nhưng do nghĩ chúng
tôi là trẻ con đứa nào mà chả muốn ở với bố mẹ. Lại nữa bây giờ phải ăn chực
ông anh, nên bố tôi đã quyết định ở lại Nam Định trông nom giữ gìn gia sản
cho anh, để đổi lấy gạo nuôi mấy đứa con còn nhỏ.
Ở Đồng Thuỷ tuy chẳng còn chị
sen, anh bếp nữa, chúng tôi vẫn phải ăn riêng, ở riêng, hàng ngày phải chịu
cảnh đoạ đày. Bữa ăn thường ngày là ngô sắn, tương cà mà chẳng bao giờ được no
cả. Mỗi lần bê bát đĩa ra ao rửa thì những thức ăn thừa trên mâm của bác sẽ là
niềm vui không bờ bến của mấy đứa chúng tôi. Một lần thằng Kính đưa tay cố vớt
lấy một miếng bì đầy lông ở dưới ao mà tôi vất đi không muốn cho nó ăn, đã
trượt chân ngã xuống nước chìm nghỉm. Nếu như bấy giờ tôi không kêu toáng lên
và một anh người làng đi qua đấy không nhảy xuống nước vớt kịp thì thằng Kính
chắc đã chết đuối rồi.
Tám, chín tháng sau bố tôi đã
chuyển gần hết tài sản cho ông anh và cũng đã bắt được liên lạc với đơn vị,
chuẩn bị lên đường đi công tác. Trước lúc ra đi ông có ghé thăm chúng tôi.
Trước mặt ông là ba đứa ăn mày gầy gò, rách rưới, ông đã to tiếng với anh mình
và rứt khoát dắt con ra đi.
Nhưng hoạt động trong ngành
Công an mà lại có ba đứa con còn nhỏ đi theo đã làm ông vô cùng lúng túng.
Nhưng rồi sau ông cũng thu xếp gửi con vào nhờ một gia đình nông dân khá giả và
tốt bụng ở làng Lường, cạnh chợ huyện Hưng Nhân, Thái Bình.
Thời kỳ này chị em chúng tôi
phải sống gần như độc lập. Ba bốn tháng, bố mới về thăm một lần, có về cũng chỉ
mang theo ít thóc vì bấy giờ lương trả cho những người đi kháng chiến là thóc.
Tuy vậy đấy lại chính là thời kỳ đầm ấm nhất, hạnh phúc nhất trong tuổi thơ của
ba chị em chúng tôi. Ông bà chủ nhà là những nhà nông giỏi làm ăn, khá giả, có
bát ăn bát để, ông chủ đã lấy tới ba vợ đẻ đến gần chục cô con gái mà chẳng có
một mụn con giai vì thế quý thằng Kính nhà tôi lắm. Họ cho ba chị em ở hẳn gian
nhà trên. Thường xuyên chăm nom đến bữa ăn, giấc ngủ của ba đứa trẻ ở nhờ, lúc
thì cây mía, lúc đĩa xôi, thật là những người nhân hậu.
Mãi sau này, khoảng năm 1960,
cậu Kính lúc bấy giờ đã trưởng thành có đưa mẹ tôi về Thái Bình tìm đến thăm
lại ông bà chủ nhà.
Lúc gặp lại, ông cụ đã già
lắm rồi - Sau hồi cải cách ruộng đất lại bị chính anh cháu ruột được ông cụ
nhận làm con nuôi để hưởng thừa tự moi móc, đấu tố ông. Ông đã ôm lấy cậu em
tôi mà khóc mà kể lại những nhọc nhằn, gian truân của cuộc sống.
Đến bây giờ tóc chị em chúng
tôi đã bạc cả mà tôi vẫn không sao lý giải được - Tại sao ở đời lại chỉ có
người tốt, người hiền lành là chịu khổ sở. Còn những kẻ độc ác có mấy khi bị
trừng trị. Và cuộc đời chỉ có đến lúc thật cơ cực, thật khó khăn, con người mới
lộ hết bản chất cũng như bộc lộ hết khả năng của mình.
Từ một cô bé thành thị được
học ở trường Đầm, bỗng chốc tôi biết nuôi nấng hai đứa em. Biết đội thúng đi
mót khoai, biết bắt cua về muối mắm. Còn nhớ một lần, mắm có mùi không thơm,
hai đứa em chê, tôi bèn muối lọ khác cho chúng ăn, còn lọ mắm đó cứ tiếc rẻ ăn
một mình đến hết. Lại một lần đi mót khoai được nhiều quá, tham đội cả, trượt
chân ngã vật trên bờ ruộng, có người về bảo với chúng nó là tôi bị ngã gãy cổ.
Hai đứa em tôi ra bờ ruộng ôm lấy tôi mà khóc, mà lo sợ. Mãi tận tối mịt chị em
tôi mới lần về được nhà làm cả nhà ông chủ vừa lo, vừa buồn cười.
Cuộc chiến tưởng sẽ kết thúc
sớm sủa, nào ngờ ngày càng ác liệt và trong một trận càn lớn của Pháp - trận
Trái Quýt 1952 ở Thái Bình - bố tôi đã bị bắt.
Chẳng thể ở nhờ, ăn nhờ ông
bà chủ tốt bụng và nhân hậu mãi. Chị em chúng tôi lần về Nam Định hy vọng sẽ tìm được sự đùm
bọc của họ hàng, lúc bấy giờ tôi đã mười chín tuổi. Nhưng thật không ngờ khi
tôi tìm đến họ nội, họ ngoại thì đều bị chối bỏ.
Lúc bấy giờ ai lại muốn dây
với Việt Minh, cưu mang con cái Việt Minh, mà lại là một gia đình Việt Minh
không còn hy vọng chút nào nữa - mẹ chết, bố thì bị địch bắt, cầm tù biết ngày
nào ra.
Gia đình bác tôi cũng đã về Nam
Định. Nhà cửa bị phá sập cả. Sau khi gặp lại, và rất tin tưởng ở cháu ruột, bác
giai đã cùng tôi đào chỗ giấu của ở gầm lò sưởi trong phòng khách, moi được một
âu lớn đầy ắp vàng, cỡ phải bằng cái thúng khảo. Ông quyết định đưa chúng tôi
về ở với gia đình ông, hiện đang nhờ nhà một người quen tại 23 hàng Sắt Dưới.
Mặc dù không muốn nhưng bấy
giờ chúng tôi còn biết đi đâu nữa.
Theo sự sắp xếp của bác gái,
tôi đã lớn phải tập buôn bán để lập thân, bà nhờ một người dạy cho tôi cách nấu
chè đỗ đen mang ra chợ Rồng bán. Con Duyên và thằng Kính thì ở nhà sai vặt.
Tiếng là sai vặt nhưng thực sự là làm đầy tớ trong nhà. Con Duyên đã mười lăm,
mười sáu tuổi đi chợ thổi nấu, thằng Kính mười hai, mười ba tuổi thì quét dọn
và quạt hầu.
Lúc bấy giờ chị Kim đã sinh
thêm cháu thứ hai.
Những hôm đi chợ về nhìn thấy
thằng Kính gầy gò, bé nhỏ đứng quạt cho hai đứa cháu to lớn, khỏe mạnh đang nằm
ngủ mà lòng tôi cứ xót như dao cứa. Có lần vừa quạt, vừa ngủ gà ngủ gật, không
thấy mát thằng cháu đang nằm đã đạp cả bàn chân vào mặt thằng cậu khốn khổ,
khiến nó ngã vật xuống đất, vỡ đầu máu chảy lênh láng và làm thức tỉnh ông bác
ruột đang ngồi tụng kinh, gõ mõ thả hồn phiêu diêu vào cõi Niết bàn. Khi ông
giật mình quay ra hỏi thì lại được nghe một kịch bản sáng tác hoàn toàn khác
hẳn thế.
Do tần tảo, dần dà tôi cũng
đã trả được nợ mua đỗ, mua đường, chỉ còn có cái nồi là phải mượn bà bác. Đúng
lúc ấy bà ấy ra lệnh cho tôi phải về ăn cơm ở nhà để bà không mang tiếng, và
từng bữa phải góp tiền ăn, mà định mức lại gấp hai, gấp ba lần giá một bữa ăn
ngoài chợ. Việc này bà không muốn cho ông chồng biết. Tôi uất ức nhưng không
làm sao để tránh được. Và thế là cơ may mà tôi ao ước dần tích luỹ để ra ở
riêng nuôi các em đã tan biến thành mây khói. Vì thế có một bữa tôi cố tình trả
tiền cơm bà bác ngay trước mặt ông chồng, hôm đó ông ấy cũng chửi cho bà ta một
trận thậm tệ.
Sáng sáng trước khi đi chợ bao
giờ tôi cũng phải múc ra một mâm để phần cho nào là bác giai, nào bác gái, nào
chị , nào cháu...thế là mất đứt phần ba nồi chè, còn hai đứa em tôi thì chỉ
thỉnh thoảng mới được vét nồi.
Còn nhớ một lần do cố gắng
quá sức tôi đã ngã vật xuống hè đường ngất xỉu, được bà con vực vào nhà thương
làm phúc. Tin ấy bay về, bà bác đã dãy lên như đỉa phải vôi vì thương cho cái
nồi đồng của bà đang lưu lạc.
Hàng tuần sau đó, con Duyên
phải đưa cơm cho tôi, vì lúc bấy giờ nhà thương chỉ cho những người lang thang,
cơ nhỡ không nơi nương tựa ăn, chứ tôi là cháu gái của một nhà tỷ phú lừng lẫy
thành Nam, thì làm sao lại phải ăn cơm của nhà thương làm phúc. Có nhiều bữa
khi thấy em gái xách cơm vào, khi giở ra tôi chỉ thấy mấy miếng cháy đen, vài
quả cà kho, do đắng miệng tôi không sao ăn được, thì thật không ngờ những thứ
ấy lại trở thành những xuất bồi dưỡng đặc biệt cho nó. Nằm nhìn em nuốt lấy,
nuốt để miếng cháy đen mà tôi không làm sao cầm được nước mắt.
Thằng Kính cũng đã được tập
sự đi bán kem, bán báo và cũng thật không ngờ một thằng bé gầy gò, rách rưới
gần như một thằng câm lại rất có duyên bán hàng, nó đứng ở đâu hàng bán cũng
chạy băng băng. Kể cứ như vậy thì nó cũng đỡ bị hành hạ và đỡ đói khát. Song
cũng thật không may, lại có một người quen nhận ra nó. Thế là nó lại phải trở
về nhà để mà làm quần quật, để mà nhịn đói, nhịn khát, để mà bị đánh đập và để
mang tiếng là ăn hại.
Có một chiều lúc ở chợ về gặp
một cơn mưa bất chợt đổ xuống, tôi thấy thằng Kính ngã sấp mặt xuống mép rãnh
cuối sân, tôi hoảng hốt chạy ra định đỡ em dậy thì bị giữ lại. Bà bác tôi đang
hầm hầm đứng cạnh đấy nói cho tôi biết rằng: do sai thằng Kính quét sân, nó
đóng kịch giả vờ ngã chứ không phải nó ngã thật. Thật cũng may do nằm ngoài sân
mưa bị lạnh thằng Kính đã tỉnh lại và đến khi nó loạng choạng đứng dậy tay cầm
chổi sợ hãi nhìn về phía bác gái thì mặt nó đầy những máu là máu. Do hôi hám
nên không kể nóng lạnh, ba chị em tôi chỉ được một manh chiếu nằm ở ngoài hè.
Tảng sáng chúng tôi được đánh thức dậy để đun nước cho bác uống và rửa ráy.
Nhưng chẳng bao giờ bác gái dám sờ tay vào chúng tôi, vì thế bác thường phải
dùng guốc để gọi. Cũng thật không may vào một sáng mùa đông, khi cái guốc của
bác thúc trúng vào cột sống tôi, tôi đã giật mình ưỡn người đẩy vào thằng Kính
nằm giữa và huých rơi con Duyên nằm ngoài cùng xuống sân gạch sâu gần một mét.
Con bé bị ngã đau bất ngờ, chết ngất không còn ngọ nguậy được nữa. Tưởng em
chết, tôi nức nở khóc nhưng bà bác cấm không cho khóc. Chị em chúng tôi cõng
nhau xuống bếp, cũng may có một bà hàng xóm biết chuyện xoa dầu, giật tóc thế
rồi con Duyên cũng đã sống lại.
Trong bữa cơm bao giờ bà bác
cũng ngồi đầu nồi, mỗi đứa chỉ được đưa bát hai lần, đấy là quy ước. Đang tuổi
ăn, tuổi lớn mà ba chị em chúng tôi như những cái bóng vật vờ, câm lặng.
Những miếng xương của bác,
của chị và của các cháu nhả ra đều được đưa vào bát chúng tôi, “để ăn lại cho
khỏi phí”. Nhai được thì nhai, chẳng nhai được thì nuốt, chứ không đứa nào được
bỏ đi. Những miếng xương dù đã gặm rồi đó đối với chúng tôi cũng chẳng có gì đáng
phàn nàn cả, vì đói thì có cái gì không dám ăn, có cái gì là không ăn được.
Duy chỉ có miếng xương ở
miệng bác gái nhả ra là thật sự kinh khủng, bởi vì bà là người nghiện rượu
nặng. Cách uống rượu của bà ta cũng thật đặc biệt. Trước bữa ăn bà rót một bát
lớn rượu, tìm vào chỗ khuất, một tay bịt mũi, tay kia cầm bát rượu đưa lên
miệng nhăn nhó, uống một hơi hết cả bát mà không hề phải nhấm nháp gì. Trông bà
uống rượu, hệt như cái cảnh một bà hoàng hậu thất sủng, bị vua bắt uống thuốc
độc tự tử, vừa sầu thảm, vừa quái dị. Tuy thế chẳng bữa nào bà bỏ rượu cả. Sau
đó ra mâm bà chỉ gắp bát nọ, bỏ bát kia, tiếp cho chồng, cho con và cho mấy đứa
cháu ngoại của bà ấy, và còn tiếp cho cả chúng tôi nữa, với những miếng xương
mà cả nhà bà không ăn được nữa.
Bà lại là người nghiện trầu
thuốc, ăn hết miếng này lại cho miếng khác vào miệng, thành ra miếng xương từ
mồm bà nhả ra đỏ lòm như một miếng thịt tươi vừa rơi từ miệng một con ác thú,
sặc sụa mùi rượu, sặc sụa mùi trầu không, mùi thuốc lào sống. Từ đó, khi miếng
xương mà bà chuẩn bị nhả ra, thì như một tín hiệu tự động cả ba chị em chúng
tôi đều bỏ bát xuống, mời hai bác để đứng lên, mặc dù còn rất muốn ăn nữa. Có
lần thằng Kính vào sau, ăn chậm phải nhận miếng xương của bác gái. Nó nhắm mắt
nuốt chửng, nhưng miếng xương như một con vật còn sống cứ nhét vào lại nhảy ra.
Biết không thể “cố đấm ăn xương” được, nó đành đứng dậy nói dối là đau bụng.
Thế là bữa đó, vừa bị đói, vừa bị mắng là làm bộ không chịu ăn cái ăn mà bác
cho.
Tác dụng ăn trầu kể ra cũng
không phải là ít. Các cụ thì nói ăn trầu vừa làm cho chắc răng, lại vừa làm cho
môi thắm, má hồng. Nhưng miếng trầu lại in vào trí nhớ trẻ thơ chúng tôi những
ấn tượng khác hẳn.
Một hôm bác giai đang ngồi
tụng kinh gõ mõ trên phản, thằng Kính đứng quạt cho thằng cháu lớn ngủ, thằng
cháu bé uống xong cốc nước chanh, nghịch cái cốc trong chậu nước, bà bác sai
thằng Kính rửa cốc cất đi. Nhưng do thói quen được nuông chiều, nên thằng cháu
đã cưỡng lại, giằng cái cốc rồi đập vỡ ra. Thế là bà bác nhảy sổ vào thằng Kính
đè xuống, một tay túm tóc một tay cầm guốc ghè vào gáy nó. Nó thét lên đau đớn
rồi gục xuống ngất đi. Tiếng thét đó đã lôi ông bác đang trên đường lên đất
Phật để tìm Cực lạc phải trở lại nơi trần ai đầy khổ ải, bi thương này. Đó cũng
là lần duy nhất, để cứu thằng cháu “thừa tự” suýt chết, ông đã tát bà một cái
thật đau và thế là quết trầu được phun ra khắp nơi. Bà thất thanh la lên là ông
ấy bênh cháu muốn giết bà cướp của. Việc rồi cũng ổn thoả dần, chỉ khổ cho
thằng Kính vừa đau, vừa có tội vu oan, giá hoạ cho bác gái. Cái biếu trên đầu
nó đâu phải do bà đập, mà là vì cái đầu thằng ăn hại này từ lúc sinh ra đã có
biết bao nhiêu là biếu rồi.
Chị em tôi sống trong đói
khát, đòn vọt và thù hận tới hàng mấy năm ròng.
Chúng tôi sống được là do
khát khao được sống mà ở bất kỳ đứa trẻ nào cũng vậy, giống như những nhành cây
non càng bị vùi dập lại càng cố vươn lên để tồn tại. Lại cũng là vì nhờ có hai
cái hốc gài then cổng như hai cái “hầm bí mật thần kỳ” mà phần con Duyên thì ở
bên phải, thằng Kính ở bên trái, cứ tối nhọ mặt người, ra đó cho tay vào thì
thế nào cũng có một củ khoai hoặc một khoanh sắn, cũng không biết là của ai cho
nữa. Đặc biệt hơn là còn vì nhờ có cái nồi gang để ở chỗ chứa nước gạo trong
khu nhà này, bao giờ cũng có hai nắm cháy chim chim mà bà Phồ hoặc cô Hoa lén
để lại cho. Bà Phồ là một người đàn bà Việt lấy chồng Hoa kiều, chồng chết chỉ
để lại cho bà một cô con gái là cô Hoa, một cô gái thật đẹp và thật tốt.
Những nắm cháy, mẹ con cô Hoa
để lại trong cái nồi gang mà hai đứa em tôi phải thủ vào nhà xí mới dám ăn, làm
cho cậu Kính nhiều năm sau này khi đã là một kỹ sư vẫn thường nhắc tới một cách
xúc động.
Mãi tận cuối năm 1953, một
hôm đang bán chè ở chợ Rồng tôi được người ta báo cho biết là mẹ tôi vẫn còn
sống đã từ Hải Phòng về tìm chúng tôi. Tôi không thể nào tin được. Mẹ tôi đã bị
Pháp bắn chết rồi cơ mà. Nghe tin ấy các bà, các chị khách quen của tôi rủ nhau
đến, người ăn cho một bát, người hai bát rồi ai còn nợ bao nhiêu cũng trả hết.
Họ thấy tôi khóc, họ cũng khóc. Thật quý hoá biết bao những giọt nước mắt nhân
hậu ấy.
Khi về đến nhà tôi thấy một
bà ăn vận khá giả, ngồi nhìn thằng Kính đứng quạt cho thằng cháu đang nằm ngủ
mà khóc ròng ròng. Lúc thấy tôi về, bác giai tôi bảo:
- Đấy con Hạnh nó về đấy.
Và không thể nào ngờ được khi
bà quay lại, tôi nhận ra đúng là mẹ mình thật.
Hai mẹ con tôi đã vồ lấy nhau
mà khóc nức lên, đến lúc ấy thằng Kính mới dừng tay quạt và mới thấy hai hàng
nước mắt dòng dòng trên má nó.
Sau này mẹ tôi kể lại rằng
lúc mới gặp nó, khi bà vồ lấy con để khóc thì thằng bé sợ hãi lùi lại nói lí
nhí:
- Xin bà để cho cháu quạt,
không thì cháu lại phải đòn.
Và thật xót xa ngay khi ông
bác tôi hai, ba lần bảo nó:
- Đấy là
mẹ cháu đấy!
Nó vẫn
không dám rời cái quạt và không dám đến để xà vào vòng tay bà. Trong thâm tâm nó, mẹ không
còn nữa, mà mẹ thì phải giống cái bà trong tờ giấy bạc Gánh dừa cơ, chứ đâu có
sang như bà này.
Sau đó mẹ tôi phải lột cả hoa
tai, cả nhẫn để chuộc chúng tôi ra.
Mẹ con chúng tôi đưa nhau về
Hải Phòng sống với nhau, hàng tháng sau vẫn không làm sao quen được với hiện
tại, vẫn cứ nơm nớp giật mình mỗi khi có ai nói to.
Thằng Kính ốm quỵ hàng tháng,
cũng may mà rồi cũng qua khỏi được.
***
Năm nay tôi đã ngoài tám mươi
rồi, con cháu đầy đàn. Hôm mới rồi, cậu Kính cùng anh con trai duy nhất của cậu
ấy, rủ tôi lọm khọm về mãi Phủ Nam Sang (bây giờ đổi là Huyện Lý Nhân) tỉnh Hà Nam để
tìm lại họ nội.
Tôi nói với anh cháu, mà như
nói với chính mình:
- Cháu đã có cái tâm muốn tìm
về cội nguồn. Bác với bố anh, chả lẽ lại giữ mãi sự oán hận trong lòng, thì làm
sao cho phải!
Gia đình mình gốc họ Hà. Ông
nội chúng tôi tức là cụ nội anh, có công với nước. Được vua cho đổi sang họ vua
(đất Hà Nam , Nam Định là đất
phát tích nhà Trần). Từ đấy mới mang họ Trần. Nhưng mình vẫn không thể bỏ gốc
gác. Vì thế họ mình mới có cái tên kép là Trần Hà. Anh đã hiểu chưa?
- Thưa bác cháu đã hiểu rồi
ạ.
Anh cháu trai duy nhất của
ngành trưởng họ Hà cũng đã trên bốn mươi tuổi của tôi cung kính trả lời.
Hà Nội, 1994.
Liên hệ: DĐ: 0915140055
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét