tháng 9 23, 2014

Người đàn ông không mang họ cha


                               (Tặng hương hồn bạn Phùng Văn Viên)

Tôi bước cao, bước thấp mãi mới tới nhà ông bạn. Sao mà xa thế, sao mà gập ghềnh lắm thế? Rồi tôi lại bật cười về cái ý nghĩ lẩn thẩn ấy của mình! Ai bảo mình đi, ai xui, ai khiến, mình nhớ thì mình đi, thế mà cũng ca thán mãi! Âu cũng tại cái tuổi già nó hay lẩm cẩm như thế đấy!
Tôi tới nơi thì trời cũng đã xế chiều, mà ông bạn cũng chẳng có nhà. Căn nhà nhỏ cũ kỹ, rỗng tuếch nằm ẩn sau bụi tre cộc lơ thơ, mấy bụi rau cằn cỗi trước nhà tạo thêm cái hoang dã của cái vùng bán sơn địa, nghèo nàn.
Quăng chiếc gậy chống ra bờ rào, tôi cúi bước vào nhà. Căn nhà một gian hai trái đã xập xệ chỉ có độc một cái giường cũ phải kê đầu bằng mấy viên gạch, một cái bàn cũng chẳng vuông vắn và vững chãi gì hơn.
Ngồi chán chê, mãi sẩm tối mới thấy ông bạn từ rẫy về, áo vắt vai, quần xắn quá gối, tay xách mấy con chim, con dúi. Gặp tôi ông mừng lắm, vứt vội mấy thứ xuống, chùi vội tay vào quần rồi nắm lấy tôi mà hồ hởi:
- Bác đấy à? Đến đã lâu chưa, sao không báo trước?
- Cũng đã được một lúc, bác có khỏe không?
- Cứ nhìn thì biết, không khỏe sao được!
Tôi nhìn kỹ ông bạn già mới thấy ông khỏe thật. Nước da đen bóng, bắp tay, bắp chân vẫn còn săn chắc. Ở vào cái tuổi bảy mươi thì không mấy người còn cái dáng nhanh nhẹn và chắc chắn như ông ấy.
- Ở đây chơi vài hôm hãy về!
- Có một cái giường tôi nằm đâu, bọn trẻ nhà ông nằm đâu?
- Về ngoại tuần nay rồi, mà có ở nhà thì rải ít rơm ra đất là có chỗ nằm ngay thôi, lo gì!
Sự lý giải ấy, làm cho người ta thấy mọi sự trên đời đều có thể trở thành giản dị đến dễ thương, đến sảng khoái!
Tất nhiên là tôi đồng ý ngay, mà chẳng đồng ý cũng chẳng được, lần nào chả thế, dù vợ con ông có nhà thì ông cũng níu giữ tôi dăm bữa.
Tối ấy bên chén rượu và đồ nhắm ông săn được, chúng tôi đã thức mãi tới khuya. Mà có chuyện nào ra chuyện nào đâu, mỗi chuyện dăm câu, không đầu không cuối. Mãi đến khi trời gần rạng đằng đông chúng tôi mới chợp mắt và khi tỉnh dậy thì mặt trời đã lên tới đỉnh đầu.  
Trưa sau khi ở ngoài sân bước vào tôi mới chợt nhìn thấy một chiếc khung treo trên vách. Đấy là một chiếc bằng Tổ quốc ghi công còn mới, tôi cũng chẳng để ý lắm, nhưng sau khi ngồi rồi tôi nghĩ lại thì thấy hơi là lạ.
Lớn lên lại học với nhau từ bé tôi còn lạ gì, nhà ông có ai đi bộ đội đâu mà có bằng Tổ quốc ghi công. Ông lấy vợ muộn, có ba đứa con, một trai hai gái đều còn đi học. Bố thì bị đi tù hồi Cải tạo, các em ông là con Tư sản đến học cũng chẳng được, nữa là đi bộ đội. Vậy thì ai là Liệt sĩ?
Ngài ngại tôi cũng chẳng hỏi, nhưng có lẽ thấy tôi cứ thỉnh thoảng đưa mắt về chiếc khung duy nhất trên tường, nên cuối cùng ông nói:
- Bác ngạc nhiên phải không? Đó là của ông bố đẻ tôi đấy!
- Tôi tưởng...
- Câu chuyên dài lắm, cứ từ từ rồi tôi sẽ kể cho bác nghe. Tôi vốn không phải là con cụ Sính, cha tôi họ Trần, xuất thân nghèo khổ, lớn lên làm công nhân bốc vác. Bố mẹ tôi gặp nhau lấy nhau, khi bà có mang tôi thì ông đi bộ đội. Rồi cha tôi hy sinh, sau khi cha tôi mất, mẹ tôi đi bước nữa với cụ Sính và sinh ra chú Đạo, chú Đức,...
- Nhưng...
- Nhưng sao tôi lại mang họ Phùng và cũng bị đuổi học năm lớp mười chứ gì? Chẳng có mấy người biết chuyện ấy phải không, ngay bác là bạn chơi với tôi từ nhỏ mà cũng chẳng biết, thì còn ai biết nữa!
Năm 1958-1959 khi cụ Sính bị quy là Tư sản mại bản, bị bắt giam rồi mang ra đấu tố và tịch thu tài sản. Có người biết gốc gác nhà tôi, đến gặp tôi làm công tác tư tưởng, họ bảo rằng nếu làm đơn khai báo thành phần xuất thân, xin ly khai với gia đình Tư sản thì tôi sẽ được công nhận là con liệt sỹ, được hưởng những quyền lợi của gia đình liệt sỹ, thậm chí có thể còn được đi học nước ngoài nữa.
Tôi chẳng biết thực hư thế nào nữa, tìm mẹ để hỏi, mẹ tôi đã ôm lấy tôi khóc mà nói rằng:
- “Bố đẻ con là một công nhân nghèo mang họ Trần, bố mẹ lấy nhau, khi mẹ mang thai con thì bố con đi bộ đội, rồi hy sinh. Trong khi mẹ bụng mang dạ chửa, vật vờ đầu đường, xó chợ, không nơi nương tựa thì tình cờ gặp được ông Sính. Ông đã cưu mang, đùm bọc và sau đó lấy mẹ làm vợ, nhờ đó mẹ mới sinh ra và nuôi được con như bây giờ. Còn chuyện làm đơn xin ly khai để được hưởng tiêu chuẩn là con Liệt sĩ thì tùy con, mẹ sẽ đứng ra làm chứng để con được công nhận là con liệt sĩ, con cứ nghĩ kỹ đi”.
- Nhưng sao bác không khai? Tôi hỏi.
- Lúc đó còn trẻ con, với những ánh hào quang của một tương lai rực rỡ, tôi cũng muốn khai lắm chứ, vào hồi đó mấy ai có tiêu chuẩn là gia đình Liệt sĩ. Nhưng nghĩ lại thì không nỡ, bởi từ khi sinh ra, tôi chỉ biết có cụ Sính là bố mà thôi, lúc ốm đau, trái nắng trở trời, lúc học hành bị phạt, lúc hư bị mẹ đánh, tôi đều thấy cụ ở cạnh đùm bọc, chở che. Vả lại muốn được công nhận là con liệt sĩ thì phải lôi cụ ra đấu tố, điều đó tôi không thể nào làm được, vì thế tôi không theo đuổi nữa.
- Và vì thế bác vẫn mang họ Phùng!
- Đúng vậy.
- Nhưng vì sao bác lại có được cái bằng Tổ Quốc Ghi Công treo trên tường kia?
- À, câu chuyện là như thế này, khoảng năm năm trước có một vị tướng già về hưu, ở mãi tận Hà Nội tìm về đây, hỏi thăm mãi rồi tới nhà gặp tôi. Ông ta đã ôm lấy tôi khóc, mà nói rằng:
- Cháu có phải là thằng Viên con bố Vê không?
Tôi gỡ tay ông ta ra mà nói:
- Thưa cụ, cháu là Viên, nhưng bố cháu không phải là Vê!
- Thế cháu đẻ năm nào, mẹ cháu tên là gì?
Sau khi biết tên mẹ và năm sinh của tôi, ông ấy khẳng định rằng đúng tôi là con bố Vê, người đồng đội đã hy sinh thân mình để cứu sống ông trong một trận đánh ác liệt. Trước lúc chết cha tôi đã cho ông biết những điều mà chính tôi cũng chưa được biết.
Sau khi về nghỉ hưu, lặn lội tìm được tôi, ông đã tới Thành đội để khai báo, xin chứng nhận của các cấp có thẩm quyền đằng đẵng hàng gần chục năm trời và xin bằng được cho tôi tấm bằng treo trên tường kia.
Cầm tấm bằng Tổ quốc Ghi công, tôi nghẹn ngào mãi mới nói được lời cảm ơn ông tướng già. Ông cũng nói với tôi là nếu muốn ông sẽ đứng ra xin với Chính quyền để tôi được đổi về họ cha tôi, về sau này con cháu tôi sẽ được hưởng Chính sách của Nhà nước quy định.
Tôi đã kể lại cho ông nghe về chuyện của gia đình tôi và lý do vì sao tôi không đổi họ.
Ông đã nắm lấy tay tôi xúc động nói:
- “Cháu thật đúng là con bố Vê cháu! Sống ở đời phải biết trọng đạo lý. Những ân sủng, những mỹ từ chỉ giúp ta sống tốt hơn, chứ chúng không tạo ra nhân cách cháu ạ!”
Ông bạn già tôi nói sau một hồi trầm ngâm:
- Đến giờ khi đã là một lão già, tôi thấy cái họ cũng chỉ như cái áo khoác. Người phụ nữ mang nặng đẻ đau chín tháng, mười ngày mà đứa con đẻ ra vẫn mang họ chồng, chứ có được mang họ mình đâu. Lại có người làm con nuôi nhà quyền quý, để lấy lòng và để tỏ lòng thành kính nhà quyền thế nọ, bèn bỏ luôn họ bố, để mang họ nhà kia. Dòng họ cũng chỉ là một cái tên, quan trọng là con người đã mang cái dòng họ ấy sống như thế nào.
- Chơi với bác có trên năm mươi năm mà giờ đây tôi mới nhận ra bác!
- Một lão già nghèo khổ, nhưng vẫn ngang ngạnh cho đến chết phải không?
- Đúng như có người đã nói của cải và tiếng tăm chỉ như đám mây trôi. Để có của cải đã khó, nhưng cách làm ra nó, dùng nó lại còn khó biết bao! 

Hà Nội, 2006.


Liên hệ:      DĐ: 0915140055

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét