(Tặng hương hồn bạn Phùng Văn Viên)
Tôi bước cao, bước thấp mãi mới tới nhà ông bạn. Sao mà xa thế, sao mà gập ghềnh lắm thế? Rồi tôi lại bật cười về cái ý nghĩ lẩn thẩn ấy của mình! Ai bảo mình đi, ai xui, ai khiến, mình nhớ thì mình đi, thế mà cũng ca thán mãi! Âu cũng tại cái tuổi già nó hay lẩm cẩm như thế đấy!
Tôi tới nơi thì trời cũng đã xế chiều, mà
ông bạn cũng chẳng có nhà. Căn nhà nhỏ cũ kỹ, rỗng tuếch nằm ẩn sau bụi tre cộc
lơ thơ, mấy bụi rau cằn cỗi trước nhà tạo thêm cái hoang dã của cái vùng bán
sơn địa, nghèo nàn.
Quăng chiếc gậy chống ra bờ rào, tôi cúi
bước vào nhà. Căn nhà một gian hai trái đã xập xệ chỉ có độc một cái giường cũ
phải kê đầu bằng mấy viên gạch, một cái bàn cũng chẳng vuông vắn và vững chãi
gì hơn.
Ngồi chán chê, mãi sẩm tối mới thấy ông
bạn từ rẫy về, áo vắt vai, quần xắn quá gối, tay xách mấy con chim, con dúi.
Gặp tôi ông mừng lắm, vứt vội mấy thứ xuống, chùi vội tay vào quần rồi nắm lấy
tôi mà hồ hởi:
- Bác đấy à? Đến đã lâu chưa, sao không
báo trước?
- Cũng đã được một lúc, bác có khỏe
không?
- Cứ nhìn thì biết, không khỏe sao được!
Tôi nhìn kỹ ông bạn già mới thấy ông khỏe
thật. Nước da đen bóng, bắp tay, bắp chân vẫn còn săn chắc. Ở vào cái tuổi bảy
mươi thì không mấy người còn cái dáng nhanh nhẹn và chắc chắn như ông ấy.
- Ở đây chơi vài hôm hãy về!
- Có một cái giường tôi nằm đâu, bọn trẻ
nhà ông nằm đâu?
- Về ngoại tuần nay rồi, mà có ở nhà thì
rải ít rơm ra đất là có chỗ nằm ngay thôi, lo gì!
Sự lý giải ấy, làm cho người ta thấy mọi
sự trên đời đều có thể trở thành giản dị đến dễ thương, đến sảng khoái!
Tất nhiên là tôi đồng ý ngay, mà chẳng
đồng ý cũng chẳng được, lần nào chả thế, dù vợ con ông có nhà thì ông cũng níu
giữ tôi dăm bữa.
Tối ấy bên chén rượu và đồ nhắm ông săn
được, chúng tôi đã thức mãi tới khuya. Mà có chuyện nào ra chuyện nào đâu, mỗi
chuyện dăm câu, không đầu không cuối. Mãi đến khi trời gần rạng đằng đông chúng
tôi mới chợp mắt và khi tỉnh dậy thì mặt trời đã lên tới đỉnh đầu.
Trưa sau khi ở ngoài sân bước vào tôi mới
chợt nhìn thấy một chiếc khung treo trên vách. Đấy là một chiếc bằng Tổ quốc
ghi công còn mới, tôi cũng chẳng để ý lắm, nhưng sau khi ngồi rồi tôi nghĩ lại
thì thấy hơi là lạ.
Lớn lên lại học với nhau từ bé tôi còn lạ
gì, nhà ông có ai đi bộ đội đâu mà có bằng Tổ quốc ghi công. Ông lấy vợ muộn,
có ba đứa con, một trai hai gái đều còn đi học. Bố thì bị đi tù hồi Cải tạo,
các em ông là con Tư sản đến học cũng chẳng được, nữa là đi bộ đội. Vậy thì ai
là Liệt sĩ?
Ngài ngại tôi cũng chẳng hỏi, nhưng có lẽ
thấy tôi cứ thỉnh thoảng đưa mắt về chiếc khung duy nhất trên tường, nên cuối
cùng ông nói:
- Bác ngạc nhiên phải không? Đó là của
ông bố đẻ tôi đấy!
- Tôi tưởng...
- Câu chuyên dài lắm, cứ từ từ rồi tôi sẽ
kể cho bác nghe. Tôi vốn không phải là con cụ Sính, cha tôi họ Trần, xuất thân
nghèo khổ, lớn lên làm công nhân bốc vác. Bố mẹ tôi gặp nhau lấy nhau, khi bà
có mang tôi thì ông đi bộ đội. Rồi cha tôi hy sinh, sau khi cha tôi mất, mẹ tôi
đi bước nữa với cụ Sính và sinh ra chú Đạo, chú Đức,...
- Nhưng...
- Nhưng sao tôi lại mang họ Phùng và cũng
bị đuổi học năm lớp mười chứ gì? Chẳng có mấy người biết chuyện ấy phải không,
ngay bác là bạn chơi với tôi từ nhỏ mà cũng chẳng biết, thì còn ai biết nữa!
Năm 1958-1959 khi cụ Sính bị quy là Tư sản
mại bản, bị bắt giam rồi mang ra đấu tố và tịch thu tài sản. Có người biết gốc
gác nhà tôi, đến gặp tôi làm công tác tư tưởng, họ bảo rằng nếu làm đơn khai
báo thành phần xuất thân, xin ly khai với gia đình Tư sản thì tôi sẽ được công
nhận là con liệt sỹ, được hưởng những quyền lợi của gia đình liệt sỹ, thậm chí
có thể còn được đi học nước ngoài nữa.
Tôi chẳng biết thực hư thế nào nữa, tìm
mẹ để hỏi, mẹ tôi đã ôm lấy tôi khóc mà nói rằng:
- “Bố đẻ con là một công nhân nghèo mang
họ Trần, bố mẹ lấy nhau, khi mẹ mang thai con thì bố con đi bộ đội, rồi hy
sinh. Trong khi mẹ bụng mang dạ chửa, vật vờ đầu đường, xó chợ, không nơi nương
tựa thì tình cờ gặp được ông Sính. Ông đã cưu mang, đùm bọc và sau đó lấy mẹ
làm vợ, nhờ đó mẹ mới sinh ra và nuôi được con như bây giờ. Còn chuyện làm đơn
xin ly khai để được hưởng tiêu chuẩn là con Liệt sĩ thì tùy con, mẹ sẽ đứng ra
làm chứng để con được công nhận là con liệt sĩ, con cứ nghĩ kỹ đi”.
- Nhưng sao bác
không khai? Tôi hỏi.
- Lúc đó còn trẻ
con, với những ánh hào quang của một tương lai rực rỡ, tôi cũng muốn khai lắm
chứ, vào hồi đó mấy ai có tiêu chuẩn là gia đình Liệt sĩ. Nhưng nghĩ lại thì
không nỡ, bởi từ khi sinh ra, tôi chỉ biết có cụ Sính là bố mà thôi, lúc
ốm đau, trái nắng trở trời, lúc học hành bị phạt, lúc hư bị mẹ đánh, tôi đều
thấy cụ ở cạnh đùm bọc, chở che. Vả lại muốn được công nhận là con liệt sĩ thì
phải lôi cụ ra đấu tố, điều đó tôi không thể nào làm được, vì thế tôi không
theo đuổi nữa.
- Và vì thế bác vẫn
mang họ Phùng!
- Đúng vậy.
- Nhưng vì sao bác lại có được cái bằng Tổ Quốc Ghi Công treo trên tường kia?
- À, câu chuyện là như thế này, khoảng
năm năm trước có một vị tướng già về hưu, ở mãi tận Hà Nội tìm về đây, hỏi thăm
mãi rồi tới nhà gặp tôi. Ông ta đã ôm lấy tôi khóc, mà nói rằng:
- Cháu có phải là thằng Viên con bố Vê
không?
Tôi gỡ tay ông ta ra mà nói:
- Thưa cụ, cháu là Viên, nhưng bố cháu
không phải là Vê!
- Thế cháu đẻ năm
nào, mẹ cháu tên là gì?
Sau khi biết tên mẹ
và năm sinh của tôi, ông ấy khẳng định rằng đúng tôi là con bố Vê, người đồng
đội đã hy sinh thân mình để cứu sống ông trong một trận đánh ác liệt. Trước lúc
chết cha tôi đã cho ông biết những điều mà chính tôi cũng chưa được biết.
Sau khi về nghỉ hưu,
lặn lội tìm được tôi, ông đã tới Thành đội để khai báo, xin chứng nhận của các
cấp có thẩm quyền đằng đẵng hàng gần chục năm trời và xin bằng được cho tôi tấm
bằng treo trên tường kia.
Cầm tấm bằng Tổ quốc
Ghi công, tôi nghẹn ngào mãi mới nói được lời cảm ơn ông tướng già. Ông cũng
nói với tôi là nếu muốn ông sẽ đứng ra xin với Chính quyền để tôi được đổi về
họ cha tôi, về sau này con cháu tôi sẽ được hưởng Chính sách của Nhà nước quy
định.
Tôi đã kể lại cho ông nghe về chuyện của
gia đình tôi và lý do vì sao tôi không đổi họ.
Ông đã nắm lấy tay tôi xúc động nói:
- “Cháu thật đúng là
con bố Vê cháu! Sống ở đời phải biết trọng đạo lý. Những ân sủng, những mỹ từ
chỉ giúp ta sống tốt hơn, chứ chúng không tạo ra nhân cách cháu ạ!”
Ông bạn già tôi nói sau một hồi trầm
ngâm:
- Đến giờ khi đã là một lão già, tôi thấy
cái họ cũng chỉ như cái áo khoác. Người phụ nữ mang nặng đẻ đau chín tháng,
mười ngày mà đứa con đẻ ra vẫn mang họ chồng, chứ có được mang họ mình đâu. Lại
có người làm con nuôi nhà quyền quý, để lấy lòng và để tỏ lòng thành kính nhà
quyền thế nọ, bèn bỏ luôn họ bố, để mang họ nhà kia. Dòng họ cũng chỉ là một
cái tên, quan trọng là con người đã mang cái dòng họ ấy sống như thế nào.
- Chơi với bác có trên năm mươi năm mà
giờ đây tôi mới nhận ra bác!
- Một lão già nghèo khổ, nhưng vẫn ngang
ngạnh cho đến chết phải không?
- Đúng như có người đã nói của cải và
tiếng tăm chỉ như đám mây trôi. Để có của cải đã khó, nhưng cách làm ra nó,
dùng nó lại còn khó biết bao!
Hà Nội, 2006.
Liên hệ: DĐ: 0915140055
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét