Tôi cố
gắng lắm mới lần đến được cổng cơ quan, cái xương chậu vỡ, được ghim lại bằng
mấy cái đinh bạch kim có lẽ không còn được nghiêm chỉnh như khi mới xuất viện.
Nó đã hành hạ tôi đến khổ. Tôi có cảm tưởng như các mảnh xương vỡ cứ cứa vào
các sợi dây thần kinh, vốn đã rất yếu ớt của tôi.
Mới cách
đây nửa năm thôi tôi còn là một Tổng cục trưởng của một Tổng cục trực thuộc
Bộ.
Mặc dù
đã hơn sáu chục tuổi, nhưng tôi vẫn còn là một người khoẻ mạnh, tràn đầy sức
lực và tham vọng.
Sinh
trưởng trong một gia đình khá giả, bố tôi là người có tên tuổi trên văn đàn.
Sáu anh chị em tôi đều được học hành tử tế và thành đạt.
Mới gần
bốn mươi tuổi tôi đã giữ một chức vụ quan trọng trong một cơ quan trung ương.
Cứ đà ấy tôi sẽ là Thứ trưởng, thậm chí là Bộ trưởng nữa. Thì đấy như thằng cha
Đan tài đức quái gì, lăn lộn trong đường đời bằng tôi sao được, mà vẫn ...
Nhưng
một tai nạn làm cho bước đường công danh đang mở rộng thênh thênh đã đóng sầm
ngay trước mặt tôi. Những ước mơ héo đi nhanh chóng như một cây non bị dội nước
nóng. Lại chính thằng cha Đan ấy đã cho gọi tôi lên hỏi qua quýt về công việc,
xong hắn hạ một câu cộc lốc:
- Anh đã
quá tuổi hưu trí rồi, về mà nghỉ cho khoẻ. Lần làm việc sau ở bộ, tôi không muốn gặp lại
anh nữa.
Nghĩ đến đó, tôi cứ uất lên.
Tôi thì còn được học hành dù là tốt nghiệp đại học hàm thụ, chứ còn thằng cha
này, có lần đã nói tưng tửng trước mặt mọi người:
- Tôi ấy à?! Học lớp mười trừ
sáu nhưng làm bộ trưởng bộ nào cũng dư sức.
Thật là điển hình của sự ngu
dốt và liều lĩnh.
Đấy là chưa kể năm ngoái lão
ta đã giao cho một tên đồ đệ làm chủ nhiệm một công trình lớn cỡ quốc gia.
Phương án đổ, hàng nghìn tỷ đồng của nhà nước bị ném xuống sông, không thương
tiếc, lão và ê kíp vẫn lĩnh huân chương. Sau chắc nghe chửi nhiều quá, rát tai,
lão đã nhảy sang “ngạch” khác, nhường cái ghế béo bở của lão cho thằng đồ đệ
bất tài của mình.
Sự việc này mà xẩy ra ở một
đất nước tiên tiến thì chắc khối thằng đã bị truy tố, ngược lại ở đây thì vẫn
vỗ tay ăn mừng, lĩnh huân chương, chả trách bao nhiêu người còn phải sống trong
nghèo khổ.
Tôi về hưu chưa được nửa năm
thì sự thể đã như thế này. Chẳng có mống nào thèm đến với tôi nữa. Ngày trước
con Hoa, thằng Tuấn trưởng, phó phòng hành chính chưa gọi đã dạ, săn sóc tôi
còn hơn cả bố đẻ chúng nó, thế mà giờ đây nhờ lấy xuất quà của cán bộ về hưu
nhân dịp lễ Quốc Khánh, chúng nó lấy lý do:
- Anh thông cảm đến cơ quan
lấy giúp em. Em là người tay thu, tay phát lấy hộ dễ bị tai tiếng lắm.
Ngày trước thằng Tuấn, chẳng
đã vác mấy con lợn giống mãi tận Ninh Bình về cho vợ tôi nuôi là gì? Còn con
Hoa, khi nhà tôi ốm, đến ở lì cơm nước, giặt giũ cho bà ấy, bị thằng chồng nghi
là tòm tem với tôi, chả nện cho thừa sống, thiếu chết đấy thôi! Chúng nó có sợ
mang tiếng đâu!
Cụ Trạng Trình xưa chả đã
nói:
“Thớt có tanh tao ruồi
đậu đến,
Gang không mật mỡ kiến bò
chi”
Tôi chống ba-toong cố bước
lên thềm phòng Kỹ thuật vì đấy là nơi gần nhất, sát ngay sau phòng bảo vệ, vả
lại thì dẫu sao tôi cũng là dân kỹ thuật xuất thân. Suốt một thời gian dài tôi
chẳng đã là tổng cục phó phụ trách kỹ thuật là gì?
Anh em đang chia quà mùng
Hai, tháng Chín của cơ quan rất vui vẻ và hơi mất trật tự, kỳ này năm ngoái tôi
mà xuất hiện đột ngột như bây giờ chắc sẽ làm anh em hoảng hốt và im bặt tức
khắc, tôi biết lắm chứ. Nhưng giờ đây sau khi chào tôi một câu, họ lại người
nào việc nấy, lại ồn ào, vui vẻ.
Tôi tìm một cái ghế và ngồi
xuống đó quan sát. Dân kỹ thuật vốn trầm lặng, ít lời mà sao hôm nay lại vui
vẻ, ồn ào thế, thì ra ngoài chai rượu, cân kẹo, cân bánh, mỗi xuất lại được
thêm một cái giò lụa và hai cân thịt bò, chả trách họ vui vẻ cũng là phải,
lượng quà ấy trị giá hơn tháng lương của một kỹ sư lâu năm.
Lúc lâu sau tôi thấy Khải vào
tay cầm ấm chè vừa mua ngoài quán, tráng ấm pha nước mời tôi uống. Khải là một
kỹ sư giỏi, kém tôi cỡ hơn chục tuổi tóc cũng đã có nhiều sợi bạc. Bây giờ ngồi
quanh tôi đã có bốn năm anh em kỹ sư chủ chốt của Tổng cục. Tôi nhìn họ ngồi đó
như bầy em nhỏ đã cùng tôi trong nhiều năm xây dựng biết bao công trình mà lòng
bỗng se lại. Một thời gian dài tôi đã quản lý họ, cùng họ chia sẻ bao lo toan
và vui sướng, nhưng tôi vẫn không thật hiểu họ, không những không biết yêu quí
họ, mà tôi đã như một ông vua đầy quyền lực lại tàn nhẫn, yêu nên tốt, ghét nên
xấu, chẳng ai dám chống lại, chẳng ai chống lại nổi.
Không thấy có một phản ứng hạ
lưu nào. Họ im lặng, xa lánh và khinh bỉ.
Đến nay tôi thấy thật hối
tiếc thì đã chẳng kịp nữa rồi.
Trong số anh em ngồi đây thì
Khải là người có nhiều duyên nợ nhất với tôi. Có lúc tôi đã từng rất yêu quí
Khải, nhưng sau đó tôi cũng đã hành hạ cậu ta đến không còn thở được nữa. Chỗ
nào khó khăn nguy hiểm nhất thì tống vào, như tháng Hai, năm Bẩy chín ta cùng
Trung Quốc va chạm ở biên giới thì tháng Mười, cậu ta phải đơn thương, độc mã
lên đó để khảo sát, thiết kế một công trình lớn. Mấy kỳ nâng lương cậu ta bị
hãm lại để xét và để rồi bị loại ra. Cậu ta còn suýt chết mấy lần do mìn, do
bắn tỉa. Lương không còn đồng nào gửi về cho vợ nuôi con. Thế là vợ Khải phải
bỏ việc cơ quan đi bán xôi để kiếm sống.
Đợt ấy Vụ Kỹ thuật của Bộ
thiếu một chuyên viên giỏi nghiệp vụ và ngoại ngữ phụ trách công tác thông tin
đối ngoại, ông Vụ trưởng đích thân đến gặp tôi để xin Khải. Ngoài mặt tôi không
nói gì, nhưng tôi đã sai tay chân phá bằng được. Thế là đi cũng dở, ở không
xong. Tôi tưởng giờ đây gặp tôi, cậu ta sẽ trả đũa, nhưng không, cậu ta chỉ
lặng im. Có lẽ bởi vì bây giờ tôi chả có nghĩa gì với cậu ta nữa. Mà tôi thì
đâu có ít kẻ thù. Ngày trước không biết thằng cha nào đã nhồi vào vào óc tôi
câu “Nhất tướng công thành, vạn cốt khô” có nghĩa là để trở thành một ông tướng
thì có giết hàng vạn người cũng là phải lẽ. Tôi đã lấy câu ấy để làm phương
châm sống, mà có lẽ còn rất nhiều người cũng áp dụng phương châm sống ấy. Bây
giờ có thời gian suy ngẫm lại thì mới
thấy thật bất nhân. Cái gì cũng có giá của nó!
Tôi nắm lấy tay Khải, rưng
rưng nói:
- Cám ơn Khải, cám ơn cậu đã
cho uống nước!
Khải mỉm cười, rút tay ra
nói:
- Anh sao thế, uống nước chè
mà anh cứ làm như được uống nước thánh ấy.
Hương chè bay lên thơm ngát
đến lạ lùng.
Một lát sau, để phá tan cái
không khí trầm lặng, Đông hỏi tôi:
- Anh dạo này có khoẻ không
ạ? Anh đi lại đã khá chưa.
Tôi chua
chát:
- À khá
gì! Tớ thì ngày
càng tồi đi chứ làm sao mà khá lên được nữa!
Khải cười nói:
- Anh còn tráng kiện lắm, chỉ
vài ba tuần sau, bình phục rồi, anh lại có thể lái ô tô như thường.
Tôi tái mặt và nghĩ rằng thì
ra anh em biết cả. Mà sao cái thằng này nó lại ác khẩu đến thế.
Tôi bị vỡ xương chậu, gãy
rô-tuyn cổ xương đùi, thân tàn, ma dại như bây giờ chính là do cái tính hiếu
thắng của tôi.
Cuối năm ngoái, khi xuống các
đơn vị trực thuộc để dự tổng kết. Lúc về mặc dù đã uống hơi quá chén, tôi cứ
khăng khăng bảo thằng Quảng lái xe phải nhường vô-lăng cho tôi. Nó can tôi
không được, đã phát khóc.
Tôi cáu tiết bảo nó:
- Làm tổng cục trưởng, tao
còn chẳng coi “ra cái đếch gì” nữa là lái cái xe khốn nạn này!
Quả thực thì tôi là người rất
thích lái xe và cả cái khoản phụ nữ nữa.
Cái xe mô tô công mà tôi giữ
làm của riêng đã chẳng ầm ĩ lên một dạo là gì.
Lại như con Bản, y tá cơ quan
lẳng lơ và khoẻ như một con ngựa cái, tôi cũng cho thằng chồng trung cấp của nó
đi chiến trường để chiếm nó làm của riêng. Nhưng con quỷ cái này đã chẳng trung
thành cùng tôi, một lúc nó tằng tịu với hàng tá đàn ông khác. Tôi phát cuồng
lên bắt nó làm kiểm điểm và đánh quyết định đưa xuống cơ sở để bõ tức. Nào ngờ
cái con bất trị ấy đã làm đơn khiếu nại khắp nơi. Trong danh sách mười bốn “vị
anh hùng” mà nó chung chăn gối, tôi chỉ được xếp hàng thứ mười ba.
Thế là như một hũ mắm thối
được ngoáy lên ai cũng phải bịt mũi. Tôi cũng đã khốn đốn mất một thời gian.
Lại nói chuyện lái xe về hôm
đó, đúng là cái vận hạn, chứ mọi lần tôi lái có sao đâu. Đang khi vù ga, mát
máy thì tôi bị quáng bởi một luồng ánh sáng của mặt trời xế chiều xiên vào mắt.
Tôi chỉ còn thấy một quầng ánh sáng đổ ập vào tôi, sau đó là một tiếng rầm
khủng khiếp, rồi tôi chẳng biết gì nữa.
Lúc tỉnh dậy tôi thấy đang
nằm ở bệnh viện Hữu Nghị, một bệnh viện dành riêng cho những người có mức lương
cao. Vợ chồng Quảng đã vào thăm và kể lại tỷ mỉ mọi việc cho tôi nghe. Sau khi
phá tan cả hai cái xe, tôi đã ngất đi. Thế là, dù còn rất đau Quảng đã phải vần
tôi sang ghế bên, để khi công an đến lập biên bản thì Quảng nhận mọi trách
nhiệm về mình.
Tôi hỏi Quảng tại sao làm vậy
thì nó vừa khóc, vừa nói:
- Nếu để họ lập biên bản đúng
sự thật thì em chỉ phải thu bằng lái xe là cùng, nhưng còn anh thì sao? Đã
không có bằng lái, lại lái xe trong lúc say rượu, anh sẽ bị kỷ luật! Vậy ai sẽ
rút tiền của cơ quan để đền cái ô tô bên bộ ngoại giao giá đến bốn, năm chục
lạng vàng? Lại còn xe của cơ quan thì lấy tiền đâu ra mà sửa? Không có xe thì
em sẽ lái cái gì?
Làm như thế này, anh không bị
kỷ luật, nhưng còn em thì đi tù chắc rồi, vì bên xe kia chết mất một chuyên
viên. Em đã nghĩ rồi, em là người chịu ơn anh. Anh đã đưa vợ con em từ quê ra,
cho nhà, cho việc. Thế thì đi tù vì anh, em cũng không ân hận gì. Chỉ mong anh
cố thương lấy chúng em và các cháu.
Nói rồi vợ chồng Quảng khóc
như mưa.
Tất nhiên là tôi làm đúng như
sự sắp xếp khôn ngoan của nó.
Đền xe cho cơ quan kia, chữa
xe nhà, mà Quảng cũng chỉ phải giữ bằng lái có sáu tháng chứ không phải tù tội
gì.
Thế là sau cú đó quỹ cơ quan
rỗng tuếch. Tôi thì không đứng thẳng được nữa vì cái xương chậu vỡ. Rồi cái
quyết định hưu trí giáng thêm một đòn chí mạng nữa làm tôi gục hẳn. Bạn bè,
chiến hữu không ai lai vãng đã đành, đến bọn tay chân cũ cũng quay lại “sủa”
vào mặt tôi.
Thực thì những người như
chúng tôi, cũng không có bạn mà chỉ có những người cần mình và những người mình
cần mà thôi.
***
Lát sau, tôi nói với Khải:
- Khải này, cái tranh cậu cho
mình hồi trước, mình không giữ được, nhưng mình biết cậu đang vẽ tranh gửi bán
ở các Ga-lơ-ri. Mình muốn xin lại cái tranh như cái cũ có được không?
Khải bỏ chén nước xuống nói:
- Anh ạ, anh cũng biết tôi
phải làm thêm nghề phụ để bổ sung vào bậc lương quá thấp của mình, nuôi các
cháu ăn học. Ngoài bố vợ tôi, anh là người duy nhất tôi biếu tranh. Sự việc ra
sao anh biết rồi.
Đông thêm vào:
- Các anh vừa là cấp trên,
vừa tuổi tác vào hàng cha chú. Bọn em vô ý, sơ suất điều gì thì đến là điêu
đứng.
- Nói thế chứ như cậu Khải
cũng chỉ “khó khăn tý chút”, chứ có sao đâu. Tôi chống chế.
Toàn bổ sung:
- Chưa chết nhưng cũng gần
tắt thở. Chồng thì đi trấn thủ biên giới hàng năm trời, đúng thời kỳ bắn phá,
không gửi nổi lương về nuôi con, không vẽ được tranh bán. Vợ Khải đã phải nghỉ
việc ở cơ quan ra bán xôi, mới khỏi chết đói. Nhưng thằng Khải cũng có lỗi. Nó
làm việc tốt, ai cũng công nhận, lại là một hoạ sĩ tài hoa, vẽ tranh bán chạy
hơn nhiều hoạ sĩ lâu đời khác, cái gì cũng tỏ ra thông minh, mà lại đi biếu anh
tranh đôi cá thì quả là...“hơi ngu” đấy.
Tôi cười gượng:
- Đấy, vấn đề là ở đấy. Khi
mình ăn mừng về nhà mới có xin Khải một cái tranh, Khải đưa cho mình xem các
mẫu tranh cậu ấy vẽ, nhiều tranh mình thích nhưng tranh đôi cá có một sự quyến
rũ đặc biệt với mấy nét bút phóng túng. Vừa cố ý, lại vừa vô tình, hết sức giản
dị mà vẫn tinh tế. Bên cạnh cậu ấy lại chép câu thơ cổ của Nguyễn Cao bằng chữ
Hán làm cho mình mê ngay. Tranh là người, vì thế đầu tiên mình tỏ ra rất nể
Khải.
Nhưng thật không may có một
thằng đến nhà chơi, xem tranh, đầu tiên khen hết lời. Nhưng khi biết là tranh
của Khải vẽ, thế là nó đặt điều, nào là thằng này thật bất trị, tự cao, tự đại,
không coi ai ra gì, nó chuyên nghề châm chọc, xỏ xiên, nó chơi khăm anh đấy.
Anh gốc Khu Tư, mà nó mang tặng tranh cá, lại là cá trê ăn tạp, rúc dưới bùn.
Nó biết anh hay bị cấp trên sờ gáy.
Một lần, hai lần, rồi nhiều
lần, nó nói đi, nói lại. Thật đúng như chuyện Tăng Sâm giết người. Mình dần dần
nghĩ và rồi tin như vậy. Mình đã hạ cái tranh đó xuống. Một hôm, bà chị ruột
mình là đại tá quân y đến chơi nghe vợ mình thuật lại cái ý của thằng khiêu
khích kia, đòi xem tranh, bà xem rất kỹ và nhận xét:
- Người vẽ tranh này là một
người có tính cách, loại trừ những mâu thuẫn với cậu thì đây là bức tranh đẹp
và người vẽ nó là một người ưa phóng khoáng. Hay là cậu cho tôi bức tranh này,
tôi treo ở nhà, thì chẳng có chuyện gì nữa.
Bà đem bức tranh về treo ít
lâu thì có một ông khách nước ngoài đến chơi và đã xin kỳ được bức tranh ấy.
Rồi để đáp lại, ông ta đã biếu bà ấy một món quà có giá trị.
Hôm nọ, chồng bà ấy đi công
tác nước ngoài về, bà đem cho mình một cái ti-vi mầu trị giá hơn ba trăm đôla
Mỹ, mình nghĩ là món quà quá lớn không dám nhận. Bà ấy bèn nói:
- Cậu đừng ngại đây chỉ
là phần nửa cái tranh cá mà cậu là chủ
nhân. Và tôi nói để cậu biết là nếu như không vì cái quan hệ không thể từ chối
được với ông khách nước ngoài kia và nếu như ông ta không cố nài nỉ, thì tôi đã
giữ được bức tranh ấy rồi.
Mình vì ngượng một phần và tự
trách mình một phần, mãi không dám nhận món quà của bà chị cho. Bây giờ gặp cậu
ở đây, mình muốn xin cậu lại bức tranh đó, không biết có được không?
Khải ngồi một lúc, mới nặng
nhọc nói:
- Tranh tôi thường vẽ hoặc
phác thảo xong, đưa cho mọi người xem góp ý, kể cả bà hàng xôi nhà tôi nữa. Khi
nào thật ưng, mới sao ra đem gửi bán, bản gốc vẫn giữ lại. Lần anh hỏi xin, vì
quý anh, mà sao tôi lại không quý anh cho được, khi anh vừa là cấp trên, vừa
lớn tuổi, lại vừa hiểu biết rộng cả về Hán học, vì thế tôi đã quyết định biếu
anh bản gốc. Tranh tôi sao lại, đem gửi bán như cái tranh đó chỉ có 10 đô-la.
Anh chỉ cần móc 10 đô-la trong túi ra là có người cung kính đưa hai tay dâng
lên, cần gì phải xin!
Tôi thật ngượng nhưng cũng
phải nói cho rõ, không phải để cố xin thêm cái tranh thứ hai của Khải mà để cậu
ta hiểu thêm về mình.
- Mình đã về hưu rồi, lương
không đủ tiêu vặt, làm sao có tiền mua tranh. Mình xin cậu tranh lần này, mà
vẫn là cái tranh ấy, thì cậu cũng hiểu là mình đã nhận thấy sự nhầm lẫn, nó sẽ
như một lời nhắc nhở, chứ không phải vì đó là một cái tranh có giá trị.
- Tôi hiểu anh! Nhưng anh vẫn
phải mua tranh. Tôi ký gửi 10 đô-la nhưng với anh, tôi chỉ lấy 10 sen, đó là
luật thuận mua vừa bán mà. Anh không đủ 10 sen à? Thế thì 5 sen vậy!
Tôi cười
héo hắt:
- Ôi Khải ơi! Cậu làm như vậy
thật bôi bác, nhưng cũng thật đáng cho
tớ lắm!
- Không, anh hãy hiểu tôi,
tôi không hề có ý bôi bác anh, mặc dù tôi chưa thể quí anh ngay được, anh biết
5 sen không đổi được vài lẻ gạo, nhưng vẫn là bán. Bởi vì sau cái vụ biếu anh
tranh đôi cá ấy, tôi đã thề sẽ không cho ai tranh nữa.
Hôm nọ, anh Đào Tổng cục phó
Nội chính, người chỉ có mỗi khả năng tính ra mâm bát khi có hội nghị, rất mê
sưu tầm đồ cổ đã mời tôi về nhà chơi, cho uống rượu tắc kè, khoe mấy cái bình
vôi sứt mép, cái hương án gãy chân, cũng ngỏ ý xin tranh tôi, còn nói nửa kín,
nửa hở là sẽ phân nhà cho tôi nữa. Anh ta còn nói anh ấy là người hiểu biết,
chứ không như anh.
Tôi đã nói với anh ấy
rằng:
- Anh Đào ạ! Tôi không thể
cho tranh được, vì làm như thế tức là phản lại lời thề của mình, phản lại chính
mình. Một con người như vậy thì không đáng tôn trọng nữa. Còn về tầm hiểu biết
thì nói anh đừng giận, anh chỉ là học trò của anh Hoàng thôi!
Anh biết không, anh Đào đã
đứng phắt dậy xổ ra một tràng những câu bất nhã. Anh ạ, nếu tôi lại khom lưng
mang tranh đến tặng cho một người như thế, thì tôi là cái giống gì, có còn dám
ngẩng mặt nhìn người khác nữa hay không?
Tôi sững sờ trước câu nói của
Khải và như vừa phát hiện thêm một điều gì nữa thật lạ. Ở cái thời buổi này mà vẫn
còn người “thái nhân cách” như cậu ta sao? Tôi nói với Khải rằng:
- Mình hiểu rồi. Sống làm
người thật khó!
Để đỡ căng thẳng Đông hỏi
tôi:
- Anh ạ, vừa nãy anh có nói tới câu thơ của
Nguyễn Cao mà Khải đề trong tranh, đó là câu gì ạ?
- À, đó là câu: “Thiên địa
hứa đa dung Tử Sở, trùng trùng thuỷ bích dữ sơn thanh” có nghĩa là: “Đất trời,
sông núi biếc xanh, vẫn cho Tử Sở dung thân trên đời”. Đấy là tâm sự và cũng là
ý chí của người xưa, nhưng sao Khải lại đưa vào tranh của nó, nó ngầm muốn nói
dù gặp khó khăn, dù phải gian nan, vất vả nếu có ý chí vẫn có thể vượt qua. Nó
muốn theo người xưa mà học. Mình tiếc là không giữ được bức tranh ấy, lại càng
tiếc là không hiểu được Khải sớm hơn. Thôi bây giờ mình phải về rồi, mà mình
còn phải xuống hành chính, lĩnh xuất quà của cơ quan nữa.
Ra đến thềm, tôi thấy Khải đã
đón tôi ở đó, đỡ tôi xuống và ngỏ ý muốn đưa tôi về, cậu ta vừa tậu được một
cái mô-tô loại sang bằng tiền bán tranh của mình. Tôi ngượng ngùng từ chối,
nhưng sau lại đồng ý, vì đi một mình đã khó khăn lắm rồi, đằng này lại thêm
bốn, năm cân quà cáp nữa, thuê xe thì quả thực là không có tiền.
Khải không đèo tôi về ngay mà
đưa tôi đi uống cà-phê, món giải khát sang đối với tôi bây giờ. Trong lúc uống
nước tôi đã ngỏ ý muốn Khải dạy cho một nghề phụ để giết thời gian lại để có
thêm thu nhập.
Khải đã nói rất thành thật:
- Tôi có đến mười bảy cái
nghề phụ ngoài cái nghề kỹ sư cầu cống, nhưng xem ra anh chẳng làm được nghề gì
mà tôi biết.
- Sao cậu lại coi thường mình
vậy. Cậu hẳn còn nhớ mình xuất thân trong một gia đình khá giả, chả lẽ mình nấu
xôi lại không bằng vợ cậu sao?
- Có thể anh nấu xôi ngon hơn
vợ tôi, nhưng anh không thể ngồi bán xôi như vợ tôi hoặc đi chữa xe ở đầu đường
như tôi đã từng làm.
- Đúng, đấy mới là cái lẽ!
Tôi thừa nhận.
- Còn như thực sự anh muốn
làm việc, lại không mặc cảm thì có một việc tôi vẫn phải đi thuê, ấy là khâu
bồi tranh. Tôi vẽ lụa, vẽ xong phải mang tranh lên Hàng Mã thuê họ bồi, công họ
lấy khá cao, vì việc cũng khó. Cụ thể là dán tranh lụa lên trên một tờ giấy.
- Dán lụa lên trên giấy thì
có gì là khó! Tôi chủ quan.
- Không đâu! Ngược lại rất
khó, bồi tranh là dán lụa lên giấy, nhưng chúng phải dính liền nhau như một,
chỉ cần bong bằng hạt đỗ xanh là phải bỏ cái tranh đó đi. Vì thế muốn làm được
việc này phải đi học và tập dần.
Trước lúc chia tay, Khải có ý
hỏi kẻ nào đã xúc xiểm tôi về cái tranh đôi cá mà cậu ấy đã cho tôi.
Tôi cười nói với Khải:
- Cậu chả nên nghe tên thằng
ấy làm gì, nó sẽ làm hỏng những suy nghĩ tốt đẹp của cậu. Chỉ biết đó là một
tên đê tiện.
Khải không nói gì nữa, lúc
chia tay cậu ta hứa sẽ đưa tôi lên Hàng Mã để học bồi tranh, mà cậu ta sẽ trả
tiền học phí.
Tôi còn lại một mình trước
cửa nhà, tay xách lỉnh kỉnh món quà của cơ quan, nhìn theo bóng Khải mà nghĩ về
cái thằng đê mạt đã xúc xiểm tôi. Nó đã từng đem vợ đến hiến cho tôi để cầu
tiến bộ, bây giờ nó đang leo dần lên cái ghế của tôi ở cơ quan đấy.
Cũng may mà tôi không cho
Khải biết, chứ nếu không thì với cái khẩu khí của cậu ta, lại thêm cái tính chó
má của thằng nọ, không biết Khải sẽ ra sao.
Tôi lại chợt hiểu ra rằng vì
sao gần đây Bộ lại biết tất cả những vụ rắc rối của cơ quan, kể cả những chuyện
vặt vãnh thuộc cá nhân tôi một cách mau lẹ đến thế, như việc đã tổ chức cưới
sớm cho con gái tôi khi nó mới mười bảy tuổi, để tranh thủ quà cưới của mọi
người trước lúc tôi về hưu. Rồi chuyện phân nhà cho chúng, khi vợ chồng chúng
nó chưa đi làm ở đâu cả, đến những việc tôi không hề làm như ném gói phân sang
nhà ông Phó Tổng hàng xóm, do hai bà vợ có mâu thuẫn với nhau. Tất cả được dàn
dựng và báo cáo tỷ mỷ lên cấp trên một cách có dụng ý. Thì ra cái ghế của tôi
đã làm cho nó tối mắt, cái thằng chó má ấy!
Tôi bỗng nhớ khi học tiểu
học, thày giáo Hán ngữ có dạy rằng:
- Chữ nhân là người, mà ở đời
làm người khó lắm các con ạ! Nói rồi thày cầm hai cái thước kẻ trên mặt bàn xếp
thành chữ nhân (人)khi thày buông tay, thì nó đổ kềnh ra. Thày lại
tiếp:
- Thế mà làm một người tốt,
một người tài, tức là một đại nhân thì thật khó. Nói xong, thày lấy ba cái
thước để xếp thành chữ đại (大). Tất nhiên là nó càng khó có thể đứng được.
Đến lúc này tôi mới thật thấm
thía, để làm một con người đâu có dễ, nhất là lại làm một người tốt.
Hà Nội, 1994.
Liên hệ: DĐ: 0915140055
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét