tháng 9 17, 2014

Trấn Đa Tài

Tôi là một công nhân đã làm việc lâu năm ở cung bảo dưỡng đường bộ, thuộc một tỉnh vùng núi phía Bắc. Công việc chủ yếu của tôi hằng ngày là rẫy cỏ rãnh thoát nước, đắp lại mép lề đường bị lở, thỉnh thoảng rỗi việc thì sơn lại các cọc tiêu, biển báo.
Đã luống tuổi, sống độc thân, lại không có trình độ, nên cơ quan chiếu cố, cho tôi đi học một lớp tại Trường đào tạo Công nhân của huyện.
Nói là đi học chứ dù có miệt mài chăm chỉ đến đâu thì tôi cũng chẳng tiếp thu được mấy nữa. Chí đã cùn, sức đã kiệt rồi, chỉ hy vọng là khi về hưu, sẽ được hưởng phụ cấp ở hàng cao hơn hiện nay một chút!
Trong lớp tôi có đến hơn sáu chục học sinh, đa phần ở vào hoàn cảnh như tôi, học để có cái danh nghĩa, chứ chẳng cho ai được nhờ. Mỗi người mỗi quê, mỗi người mỗi nghề, từ các cơ quan khác nhau tụ tập tới, xa có, gần có, lứa tuổi cũng rất chênh lệch, có loại chuẩn bị về hưu như tôi, lại có người mới ngoài ba mươi tuổi.
Thế rồi dần dà một năm học cũng đã trôi qua, trong lớp tự nhiên hình thành ra một số nhóm. Có người thích tụ tập với người cùng quê, gọi là “nhóm Đồng hương”, có người chọn người cùng sở thích, như “nhóm Thuốc lào”, “nhóm Cờ tướng”, “nhóm Tiếu lâm”,...Tôi thì do đã lớn tuổi, lại trầm tính nên được liệt vào “nhóm Bô lão”!
Trong số bạn học cùng lớp, tôi mới quen với cậu Sỹ, nguyên là thợ quét vôi ở một Công ty cầu, ít hơn tôi đến gần hai chục tuổi, quê mãi tận Miền Trung.
Kỳ nghỉ hè năm nay, do sống độc thân chẳng vướng bận gì, lại do lời mời quá ư nhiệt tình của ông bạn mới, nên tôi thu xếp cùng về quê cậu ta chơi.
Trấn Đa Tài là quê của ông bạn mới nhỏ thó, đen sì ấy. Đấy là một thị trấn bé tẹo thuộc huyện Ba Lăng Nhăng, tỉnh Loạn Xà Ngầu, phía đông giáp biển, phía tây giáp với vạt rừng thưa, đất đai bạc màu cằn cỗi. Đông cách Tây chỉ vài chục kilômét.
Theo lời anh ta giới thiệu nhiều lần, thì ở đây ai cũng rất thông minh, tháo vát, cái gì cũng biết, cái gì cũng làm được, nhưng đặc biệt là ai cũng muốn thể hiện mình bằng cách làm một việc gì đấy mà mình chưa được học, không hay biết gì và càng đặc biệt hơn nếu như “thật mù tịt” về nó. 
Địa linh sinh nhân kiệt mà!
Lúc hai chúng tôi vừa bước chân xuống ôtô ở bến xe khách của tỉnh, thì lập tức đã bị bao quanh bởi một rừng người ào tới, mỗi người bọn tôi bị đến ba bốn người giành giật, nắm tay, túm áo, thậm chí còn lột cả mũ, miệng người nào cũng nói không ngớt:
- Của tao! Của tao! Của tao!
Tôi chưa kịp hiểu là thế nào, thì anh bạn tôi đã trừng mắt, quát to giận dữ:
- Đ... mẹ, chúng mày làm cái gì đấy! Có buông “sếp tao” ra không?
Đám đông vội vã tản ra ngay, nhưng dẫu buông tay, họ vẫn làm thành một vòng vây kín không có một kẽ hở.
Ai cũng tranh nhau nói:
- Dạ bọn em chỉ xin được chở các “sếp” về nhà thôi ạ!
- Ừ, nhưng bọn bay định chở bằng gì?
- Dạ bằng xe mô-tô đời mới nhất ạ!
- Ai thèm đi xe ôm! Thằng nào lái taxi!
- Dạ để em đi gọi.
Thế rồi chỉ một loáng đã thấy một xe taxi lái đến. Chúng tôi vào xe, nhưng xe không chuyển bánh được vì có người đang đứng chắn ở đầu xe.
Anh bạn tôi sừng sộ nhảy ra khỏi xe quát tướng lên:
- Đ... mẹ, mày muốn làm gì thế?
- Dạ không có gì, em chỉ xin “sếp”...
- Xin, xin cái con củ c... !!!
- Cho em xin cốc nước, công em gọi taxi ấy mà!
Anh bạn tôi làu bàu rồi móc túi ra tờ hai nghìn đưa cho anh chàng đứng chắn mũi xe. Đồng hai nghìn ấy cứ bị đùn đi đẩy lại mãi, đến khi nó biến thành đồng năm nghìn, việc đùn đẩy mới kết thúc.
Đến lúc xe chạy, tôi mới hỏi:
- Này, tại cậu đi xa hay tại cái lệ này mới có, nên cậu chưa biết?
- Làm gì tôi chẳng biết! Nhưng lờ được thì cứ lờ! Tội gì!?
Về đến nơi, mọi người trong làng vây chặt lấy cái xe từ đầu ngõ, nhất là người nhà ông bạn thì lấy làm hãnh diện lắm, gạt phăng mọi người ra để chúng tôi xuống xe, mặt ai cũng vênh vác lên như những chiếc bánh đa nướng quá lửa.
Tiền taxi mất hơn trăm nghìn (chẳng biết tay lái xe có ăn gian không, mà sao nhiều đến thế) và tất nhiên người phải trả tiền là tôi. Tuy đau hơn hoạn nhưng tôi chẳng dám hé răng, lại còn tự an ủi mình rằng để cho hai người chúng tôi vênh vác, để cả nhà ông bạn cũng được vênh vác theo, thì mất hơn trăm nghìn cũng chỉ là chuyện “muỗi”, chẳng bõ bèn gì!
Sau một lúc nghỉ ngơi, chúng tôi được mời ra dùng bữa trưa, gọi là ăn trưa nhưng thực ra chỉ có mấy củ khoai lang nhỏ như ngón tay trỏ, ăn cả vỏ (mọi người đã thuyết minh là khoai đã được rửa rất sạch, không cần bóc vỏ, và vì vỏ khoai lại chứa rất nhiều vi-ta-min bóc bỏ đi, sẽ rất phí phạm) sau đó là uống một bụng nước chè xanh hái sau vườn nhà, mà để đúng nghĩa là chè đặc cắm tăm được, người ta đã băm cả thân cây, cả cành lá như băm bèo, tọng đầy một cái nồi đất, rồi đổ nước vào đun thật kỹ. Rót trong ấm ra được một thứ nước đặc sánh, óng ánh xanh rờn. Nhấp vào chỉ thấy chát săn cả lưỡi, nhưng một lúc sau thì thấy ngòn ngọt trong miệng. Anh nào chưa ăn gì mà làm một bát đầy nước chè loại này, chắc chắn sẽ quay lơ ngay tại chỗ, chẳng cần “oong đơ”(1) gì cả!
Đến chiều chưa sậm mặt người, đã thấy hàng xóm lũ lượt kéo đến chơi, hỏi thăm sức khỏe và sự học hành của cậu cử!
Tôi thì thầm vào tai cậu bạn:
- Này bọn mình mới học năm đầu Trường Công nhân của huyện, thế mà hàng xóm lại bảo đến thăm cậu cử?! Vậy nhà này ai là cậu cử? Hay cậu có em trai đã tốt nghiệp đại học?
- Tôi là con một. Gọi cậu cử là gọi tôi chứ còn ai vào đây nữa! Việc “cóc” gì phải ngạc nhiên? Cứ gọi thế cho nó sướng! Mà bố mẹ tôi, cả làng tôi dù biết tôi chỉ đang học lớp đào tạo công nhân, vẫn cứ thích gọi như thế. Tôi cũng có cải chính vài lần, nhưng chẳng ai chịu nghe cả. Mà rồi sau này tôi học cao lên thì đích thị là cậu cử chứ còn chệch vào đâu được nữa? Vả lại ở cái xứ này, người được đi học hiếm lắm, ai đi xa nhà dù chỉ là để đào tạo thợ, cũng được gọi là cậu cử tuốt.
Âu đó cũng là cái mơ ước bao đời của người nông dân nghèo nước ta!
Hôm sau khi hai “cậu cử” còn đang ngủ chỏng gọng trên một cái chõng tre thì cả nhà đã dậy ra đồng từ sớm, lúc chúng tôi tỉnh hẳn trời đã gần trưa, rửa ráy xong thì bỗng thấy bụng réo ầm ầm, thì ra dù đi học xa nhà, ở tập thể thật, bọn tôi cũng chưa bị bỏ bữa sáng bao giờ. Khoảng quá trưa chúng tôi được gọi ra hè dùng bữa, trong lòng tôi mừng rỡ lắm, nhưng khi giở cái rổ úp trên cái mâm gỗ đã thủng lỗ chỗ ra thì lại vẫn chỉ thấy mấy củ khoai nhỏ như ngón tay trỏ, mà có ăn cả vỏ cũng chẳng bõ bèn gì. Sau khi ăn xong, đã có kinh nghiệm lần trước tôi rót một phần bát nước chè, rồi giả vờ bê bát nước ra hè uống cho mát, tôi đã phải lén pha thêm vào quá nửa nước lã để uống cho khỏi bị say.
Bữa tối dọn ra lúc chín giờ tối, được ăn hơn vực cơm ngô với moi rang mặn, gọi là đặc sản của quê hương và cũng lại tráng miệng bằng mấy mẩu khoai nhỏ như ngón tay trỏ và tất nhiên là ăn cả vỏ. Trước khi đi ngủ tôi và ông bạn ngồi chơi nói chuyện gẫu với ông lão chủ nhà. Trong khi chuyện trò tôi được biết, khi trẻ ông lão từng là một diêm dân, rất giỏi trong việc san sân phơi muối, đến lúc về già không lao động nặng được nữa, ông xoay sang mở một cơ sở sản xuất đồ mộc mỹ nghệ.
Tôi hỏi cho có chuyện:
- Thưa bác, thế khi chuyển sang mộc mỹ nghệ, bác có phải học lâu không ạ?
- Học mới biết thì có gì là giỏi!
- Hay các cụ nhà ta, có người từng làm nghề mộc?
- Cũng không phải nốt, sinh thời bố tôi làm nghề thổi kèn đám ma. Lúc hết hơi, ông cụ chuyển sang nghề vẽ truyền ảnh thờ.
- Nhưng nghề vẽ là một nghề khó!?
- Đúng, chả thế có lần cụ được thuê vẽ ảnh bố một nhà phú hộ trong làng, cả nhà ông ta thì bảo là không giống, bố tôi thì lại cứ cãi là giống.
Lằng nhằng mãi không lấy được tiền, lúc về ra đến cổng bố tôi cay cú mới “móc đểu” một câu:
 - Ông lão này lúc sống chắc chẳng ra gì, nên lúc chết xuống âm phủ bị bọn quỷ sứ nó hành hạ đến con cháu cũng không còn nhận ra được nữa!
- Rồi sau thế nào ạ?
- Còn thế nào nữa, bị bọn người nhà phú hộ lôi vào “sửa” cho một trận cẩn thận, lại xé toang cả quần áo, tô hô lần về. Vợ con phục thuốc 6 tháng sau mới lò dò đi được, từ đó ông cụ không dám đến gần ngõ nhà giàu kia nữa, ai vô ý nói đến từ “vẽ” là ông cụ giận rõ lâu.
- Chắc là sau đó ông cụ nghỉ ngơi, không làm gì nữa?
- Đâu có, ông cụ chuyển sang viết truyện ngắn và ngụ ngôn.
- Thế các truyện ấy có được đăng không ạ?
- Có, một hai truyện đầu thì cũng được một tờ “báo lá cải” ở địa phương đăng, trả cho ít tiền, nhưng đến mấy truyện sau thì sinh chuyện. May mà ông cụ lại lấy bút danh như phụ nữ, nên kẻ đi truy lùng không tìm ra được, chứ không thì chết chắc!
- Sao lại thế ạ?
- Chả biết trong mấy truyện ấy ông cụ có móc máy, xỏ xiên ai không, mà có nhiều kẻ “chạm nọc”, cứ đòi đi tìm để “tiêu diệt gọn nhà văn”! Ông cụ phải trốn về quê ngoại thằng con rể hơn năm trời mới dám mò về làng.
- Nhưng dù sao cũng phải công nhận là ông cụ rất năng động!
- Thì đã hẳn! Đất này đã được mọi người công nhận là Trấn Đa Tài mà!
Ngừng để uống nước và hút thuốc lào, sau nhẩn nha một lúc ông cụ hỏi:
- Nghe nói ở trên trường “cậu cử nhà tôi” cũng đã làm giúp cho địa phương một cái cầu lớn, chuyện ấy có thật không thế?
Tôi bèn kể cho ông cụ chủ nhà nghe:
- Dạ quả đúng là như vậy! “Anh cử nhà ta” đây, ở trường anh ấy được học để trở thành công nhân sơn bả tường, nhưng đã dám “dũng cảm” đứng ra nhận chỉ huy mọi người làm một cái cầu cho ôtô chạy qua kênh ở địa phương dài hơn hai mươi mét. Cũng may, lúc cầu sập chỉ có một con lợn sề chạy qua nên không ai bị thiệt mạng cả!
- Thật phúc đức, nếu không nó có mệnh hệ gì thì lấy ai “nối dõi tông đường”! Anh không biết chứ ngày xưa ai làm cầu, khi thông xe người ấy phải đứng dưới gầm để lỡ cầu có sập, thì đỡ phải truy tìm và xử lý! Rồi ông cụ hỏi tiếp:
 - Sau đó thì thế nào? Có bị ai “sờ” đến không?
- Có chứ, nhưng lúc địa phương truy tố trách nhiệm thì anh ấy đã “vặc” lại rằng:
- “Tại các vị yêu cầu tôi làm một việc “không nằm trong phạm trù” nghề nghiệp của tôi, tôi chỉ là một thằng đang học nghề sơn bả, thì "làm thế đếch” được cầu?!”
- Cuối cùng thì ra sao? Ông cụ hối hả hỏi.
- Hòa cả làng chứ còn sao nữa ạ! Vì ai cũng cho rằng giao nhiệm vụ ấy là nghị quyết của tập thể Lãnh đạo, mà đã là tập thể, tức là không có ai phải chịu trách nhiệm cả! Bác ạ ở đâu mà chả vậy, thế bác đã nghe thấy một câu nói cổ xưa rằng:  “Chiến thắng có trăm cha, còn thất bại là đứa trẻ mồ côi” chưa ạ?
Ông cụ lơ mơ như suy tư một lát, rồi tiếp tục câu chuyện đang “mùi mẫn”:
- Thật phúc đức! Nhưng tôi nói để cậu biết vụ sập cầu  do “cậu cử nhà tôi” gây ra vẫn chưa “là cái đinh gỉ” gì so với ca đỡ đẻ của con chị họ nó năm kia.
- Vụ đỡ đẻ ấy xẩy ra như thế nào ạ?
- Là thế này - ông cụ từ từ kể - nó là con gái cả bà chị ruột tôi, lúc bé ở làng, nhà nghèo nên không được đi học chỉ biết mò cua bắt ốc. Lớn lên đi thanh niên xung phong. Sau chiến tranh trở về, nó thường khoe với mọi người là thời gian đi phục vụ tại hỏa tuyến, nó được biên chế vào một đơn vị sửa đường, nhưng số nó may lại được xếp làm hộ lý ở trạm cứu thương của đơn vị và vì thế bây giờ nó trở thành một thày thuốc nhà nghề có thể chữa khỏi tất cả các bệnh, song thạo nhất vẫn là đỡ đẻ.
Có người hỏi nhỏ : “Này ở trạm y tế tiền phương thì ai ra đấy đẻ mà đỡ?”
Nó bèn xẵng giọng:
- Hỏi thế mà cũng hỏi! Hỏi cái lỏi củ tỏi! Thiếu gì người đẻ! Ai muốn đẻ mà chẳng được! Vớ vẩn!
Sau đó ít lâu, có một ca đẻ khó ở địa phương, sản phụ này đã sinh một lần, lần ấy vì đẻ khó, thai nhi bị ngạt không cứu được. Lần này cũng vậy, đứa bé ì ạch mãi vẫn chẳng chịu ra, sản phụ đã kiệt sức, anh chồng tìm hỏi mãi mới tới được nhà “cô đỡ lừng danh”! Chẳng may nó lại đang bận đi “cưa kéo” ở đâu đấy, mãi tận khuya mới mò về. Anh chồng sản phụ bèn phục xuống đất mà lạy như tế sao, xin nó ra tay cứu lấy tính mạng vợ con mình.
Chùng chình mãi nó mới chịu đi, bởi thực ra nó đã đỡ đẻ lần nào đâu. Lúc đến nơi thấy cái mông đứa nhỏ thò ra ngoài thì nó sợ toát mồ hôi hột. Những lần nghe lỏm ông y sỹ ở đơn vị “bốc phét”, nó không thấy nói đến “ngôi mông” bao giờ! Bây giờ biết làm sao? Sản phụ thì sắp chết, mà gia đình sản phụ thì không phải chỉ có một người lạy, mà có cả một “hội đồng lạy lục”.
Không còn đường lui nữa. Bí quá, nó bèn lấy một cái tã luồn vào bụng thai nhi rồi kéo thốc ra. Không ngờ cú kéo “không tiền khoáng hậu” ấy, đã cứu được “một bàn thua trông thấy”. Sản phụ sống, thai nhi cũng sống, thế mới “tuyệt cú mèo” chứ! Chỉ tội hai tay thai nhi đều bị gãy gập cả do bị kéo ngược ra mà thôi.
Sau đó thì khỏi phải nói, gia đình sản phụ mang ơn, trả ơn đã đành, mà cả địa phương này coi nó như một “vị phúc thần”, đi đâu cũng được mọi người cung kính, nể trọng. Nó chắc chắn sẽ được phong học hàm Nữ Giáo sư Tiến sỹ Y học đầu tiên ở tỉnh này và chắc chắn sẽ lấy được một anh chồng ra trò nếu như sau đó không xảy ra một sự cố.
- Đã xảy ra chuyện gì sao?
- Duyên do là thế này, ở làng bên có vợ một ông đại tá công an đau đẻ, ông này đã lớn tuổi mới lấy vợ, cô vợ ít hơn chồng gần hai chục tuổi, nên ông ta quý vợ lắm, ông đại tá thì muốn đưa vợ lên tỉnh để được phục vụ chu đáo hơn, nhưng cô vợ trẻ quen được chiều chuộng lại hay nhõng nhẽo, đau một tý thì làm như bị xổ ruột, nói là sợ mùi xăng, nên nhất định không chịu đi ô-tô, làng lại cách tỉnh đến hơn ba chục cây số. Khổ một nỗi lúc bấy giờ lại chưa có chủ trương làm sân bay tại làng, nên không biết giải quyết thế nào. Nghe tham mưu tán tụng khá nhiều, ông đại tá bèn mời con cháu tôi đến đỡ đẻ cho vợ tại nhà. Không ngờ vụ ấy cả mẹ lẫn con đều “thăng thiên ráo trọi”!
Ông đại tá công an như phát cuồng lên và thế là sau khi mở một cuộc điều tra rất nghiêm chỉnh mới biết vị “nữ danh y” này chưa học xong lớp hai bổ túc.
- Thế rồi  cô ta có bị xử lý không ạ?
- Sao lại không, tòa án ghép vào tội “vì thiếu hiểu biết làm chết người không cố ý” nên chỉ bị “đi tập huấn” có năm năm thôi.
- Thế sau khi ra tù, cô ta làm gì ạ?
- Nó bỗng trở thành “một nhà ngoại cảm” rất tiếng tăm!
- Cô ta chuyển sang xem tướng số và đoán vận mệnh à?
- Cũng gần như vậy! Người đến “khấn vái xin thánh phán” đông như chảy hội! Tiền vào như nước! Bố mẹ nó bây giờ sướng như tiên, chẳng phải làm gì cả!
- Tài nhỉ!?
- Lại chả tài, người của Trấn Đa Tài mà! Xứ này ai cũng rất toàn diện!
Đấy như cô Thêu, cô dạy mẫu giáo ở xóm trên mới 17 tuổi đã theo dõi và bắt được quả tang một vụ cướp của, giết người rất rùng rợn, còn ông già hát xẩm ngoài chợ huyện đã trên 80 tuổi, tóc bạc phơ phơ cũng còn biểu diễn võ thuật, cầm cả cái chai đầy nước đập vào đầu vỡ tan,...
- Họ thành công cả chứ?
- Tất nhiên!
- Chắc cô giáo là công an mật, còn ông già mù là một võ sư ẩn danh?
- Nếu đúng thế thì họ đã không chết, không thành ngớ ngẩn!
- Bác vừa nói là thành công cơ mà, sao lại ra nông nỗi ấy!?
- Thì vưỡn! Trước khi bọn cướp bị xích tay, thì cô giáo bị chúng đâm xổ ruột, bệnh viện tỉnh đã cố cứu, nhưng chỉ được có hai hôm thì “mất”. Còn ông già hát xẩm do bị cái chai đập vào đầu mạnh quá, không chết nhưng chấn thương sọ não, trở thành ngơ ngơ, cả ngày bới rác ăn bẩn, ăn thỉu rõ tội nghiệp!
- Thế sao cô giáo không đi báo công an, bởi công an mới có nhiệm vụ đi bắt cướp chứ? Còn ai xui ông xẩm đập cái chai vào đầu, chắc có người hứa cho tiền?
- Thế thì còn nói làm gì! Bởi vì đây là Trấn Đa Tài, mà ở cái xứ này ai cũng muốn thể hiện mình, luôn chứng tỏ với mọi người rằng mình có thể và rất muốn làm những việc mà mình không được đào tạo, không biết và có khi chẳng bao giờ biết cả!
- Thế mà vẫn có nhiều người hưởng ứng?!
- Tất nhiên! Thế mới tài chứ!
***
Hôm chia tay tiễn chúng tôi lên trường, ông cụ chủ nhà già nua đưa chân hai anh em tôi ra tận đầu làng bịn rịn cầm tay cậu con giai dặn dò:
- Con cố học cho giỏi. Học vấn là chiếc chìa khóa vạn năng có thể mở ra mọi cánh cửa cho ta tới các chân trời mới lạ!
Trên đường về trường tôi hỏi cậu ta:
- Ông bố cậu ngày xưa chắc được học hành tử tế, nên dặn dò con một câu hay và chí lý đến thế!
- Đâu có, ông cụ nhà tôi ngày xưa học chưa quá lớp hai trường làng, lười nhác nhưng được cái ma lanh, chỉ thích lang thang đây đó. Nhưng hễ có ai là lạ là lên mặt “cao đạo dạy dỗ thiên hạ” ngay, nó quen đi mất rồi! Câu vừa nói cũng lấy từ tập các danh ngôn tôi mượn ở thư viện. Chỉ ít lâu sau ông ấy sẽ nhận câu đó là của mình! Cái trò đó gọi là “đạo văn” tức là ăn “trộm văn” của người khác!
- Sao cậu lại có thể nói về bố mình như vậy!? Tôi bực mình căn vặn.
- Thế anh thích nghe “nói láo cho nó oai” chứ gì? Vậy thì bố tôi là “một danh nhân văn hóa Thế giới đấy!” Đã được chưa nào !? 
Tôi chẳng biết nói gì với cậu ta nữa, nhưng bỗng dưng tôi thấy nó tui tủi thế nào ấy. Tôi thấy thương cho cậu ta, thương cho cái Trấn Đa Tài của cậu ta và thương cho cả bản thân mình nữa. 


                                                              Hà Nôi, 2007.
(1) Oong-đơ: un deux: một hai (tiếng Pháp)

Liên hệ:      DĐ: 0915140055

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét