Tôi là một cô gái bán hoa bị bắt với tội
danh hành nghề trái phép. Đài, báo đã thường ra rả nói rằng xã hội ta, là một
xã hội tốt đẹp và trong sạch, nên không có các tệ nạn như mãi dâm!
Nhưng chẳng hiểu vì sao, không đâu lại nhiều
gái điếm như ở ta?!
Lúc vào trại giam, tay quản giáo quát nạt
tôi rất gay gắt, nhưng đôi mắt hắn lại cứ “mơn man, liếm láp” khắp trên cơ thể
tôi, làm cho tôi cứ gai gai cả người như bị lột hết quần áo giữa đám đông vậy.
Làm thân con điếm tôi đã từng cởi quần áo
trước những cặp mắt hau háu của những gã đàn ông đủ các loại. Nhưng chưa bao
giờ tôi có cảm giác “sởn gai ốc” như đứng trước mặt “ngài quản giáo” lúc bấy
giờ!
Tôi là một cô gái còn trẻ, mới hai mươi
ba tuổi đầu, đang chuẩn bị làm luận án tốt nhiệp kỹ sư khoa Cơ khí Đại học Bách
khoa Hà Nội.
Tôi lại là một cô gái đẹp, đã từng được đăng quang Hoa hậu của trường trong
một cuộc thi cách đây vài năm. Chả thế mà ông lớp trưởng kiêm bí thư chi bộ
lớp, hơn bố tôi hai tuổi, cứ mê tôi như điếu đổ. Ông đã hung hãn gạt phắt các
đối thủ trẻ, khỏe hơn hẳn ông ta ra khỏi tầm ngắm, nếu như họ có ý đồ muốn
“tiếp cận” với tôi.
Mải kiêu hãnh với cái sắc đẹp trời
cho, nên tôi không quan tâm lắm tới học hành. Tôi lại không phải là cô gái
thông minh. Cũng bởi trời không cho ai tất cả. Điểm tổng kết cuối năm của tôi
gần đội sổ.
Nếu không có ý kiến của lãnh đạo lớp, tức
là ông lớp trưởng kiêm bí thư, thì tôi phải lưu ban.
Ông ta ngầm ra điều kiện là nếu giúp tôi
được lên lớp, thì tôi phải cùng. ông ta
...
Lúc đầu cứ nghĩ đến đó là tôi lại tức
nghẹn lên, như bị ai bóp cổ. Nhưng so đi tính lại, bố mẹ mình ở quê thì nghèo,
lưu ban một năm sẽ khổ cho ông bà biết bao nhiêu!
“Làm hoa cho người ta hái, làm gái cho
người ta chòng”. Vả lại nếu mình cẩn thận một chút thì ai mà biết được!
Thế là tôi tặc lưỡi “OK” cho xong chuyện.
Nhưng cũng chính lần đó trong một nhà trọ
rẻ tiền, ở ngoại ô thành phố, tôi đã bị “đội phòng chống tệ nạn xã hội” bắt tại
trận, khi trên người chẳng có mảnh vải nào.
Ông bí thư thì mất chức bí thư, còn tôi
thì mất thẻ sinh viên và bị tung ra lề đường từ đó!
Mãi sau này tôi mới biết, “tên chỉ điểm”
cho “đội phòng chống tệ nạn” chính là một tên rất “mết” tôi, nhưng chưa lần nào
dám mon men tới gần.
Tôi không thể trở về quê. Chẳng có nghề
ngỗng gì, lại không một xu dính túi. Quay đủ bốn phương, tám hướng, cuối cùng
“kim la bàn của số phận” chỉ vào cái “nghề mạt hạng” mà tôi đành phải chấp nhận
này.
Đầu tiên “còn nước” thì còn được chiều
chuộng, được mời mọc, đón rước. Sau “xuống nước rồi”, thì ghế đá, gốc cây là
“nơi cư ngụ thường xuyên”.
Người ta thường nói cho nhau câu: “Chớ
nghe ca-ve kể chuyện, đừng nghe thằng nghiện trình bày!”, cũng có lý do của nó
đấy! Con điếm nào mà chả kể kể hoàn cảnh éo le, đã xô đẩy mình vào con đường
lầm lỡ, chứ thực ra mình cũng rất đáng thương, đáng cứu giúp lắm chứ! Còn bọn
nghiện, thì có đứa nào chẳng đổ tại bạn bè lôi kéo, chứ cả như mình thì làm sao
mà hư, mà nghiện cho được!
Tôi không biện hộ cho mình, cũng không
cho là mình vô tội. Nhiều lúc nghĩ lại, nếu như mình chịu khó học tập hơn một
chút, cố gắng hơn một chút, thì đâu đến nỗi!
Có một câu danh ngôn, không còn nhớ là
của ai nói nữa: “ ..........thói quen tạo thành tính cách. Tính cách
tạo nên số phận!”
Cái lỗi chính của tôi là thói ỷ lại, là
trông cậy vào một thế lực nào đấy ở bên ngoài, mà không biết tự mình phải làm
lấy việc của mình. Chính cái đó nó đã tạo nên số phận của tôi bây giờ!
***
“Ngài quản giáo” có bộ mặt nửa người, nửa
ngợm với đôi môi thâm và cặp mắt trắng dã, đã mấy lần ngầm gợi ý, nhưng tôi cứ
lờ đi như không thấy.
Cuối cùng hết kiên nhẫn, “ngài” liền ra
“độc chiêu”. Vì một lỗi vớ vẩn là hôm ấy đau bụng tháng trở dậy muộn, tôi đã
phải vào biệt giam. “Ngài” còn ra lệnh cho tay chân hành hạ tôi cực kỳ độc ác.
Cho ăn nhạt hàng tuần lễ liền.
Sau lần hành hạ ấy, “ngài” lại tiếp tục
gợi ý.
Trong tôi sự căm hận bọn đàn ông đểu cáng
đã lên đến tột đỉnh.
Sau nhiều đêm suy tính, tôi liền đồng ý.
Lão già này bài binh, bố trận rất kỹ càng
hơn hẳn ông lớp trưởng kiêm bí thư của tôi trước kia.
Khi tới cao trào, hắn xì ra rồi lịm xỉu
đi, thì cũng là lúc lòng căm hận trong tôi dâng lên cao vời vợi.
Nghiến răng lấy hai tay tôi bóp và xoắn
thật mạnh “bộ tam sự” đã mềm nhũn của hắn.
Hắn chỉ kịp nấc lên một tiếng rõ lớn, rồi
nghẹo đầu rũ xuống. Đúng như người ta nói là “chết không kịp ngáp”!
Ra trước tòa lĩnh cái án giết người có
chủ đích, nhưng do kém hiểu biết, nên chỉ bị kết án có mười năm tù!
Tôi không cãi câu nào. Nhưng lúc nằm rỗi
rãi trong trại giam, nghĩ lại tôi không sao giải thích nổi là nếu như có hiểu
biết thì tôi sẽ giết người như thế nào?! Luật với chả lệ!
Trong những năm ngồi tù, tôi trở thành
chai sạn và lầm lì, đã làm cho nhiều thằng sừng sỏ trong trại phải kiềng mặt,
không dám coi thường như trước nữa.
Nhưng có lẽ tôi vẫn chưa hết hấp dẫn, nên
một lần đi lao động ngoài trời, tôi đã gặp một cậu trai trẻ kém tôi tới năm,
sáu tuổi cứ nhìn tôi chòng chọc.
Sau này tôi mới biết đó là một tay kỹ sư
xây dựng đang làm việc ở một công ty lớn bị kết án năm năm tù vì tội hành hung
lãnh đạo, gây thương tích đặc biệt nghiêm trọng.
Nghe đâu tay này bị Giám đốc cướp mất cô
vợ mới cưới, sau lần hai vợ chồng đến nhà “sếp” chúc tết.
Sau cái lần chúc tết đó ít lâu, cô vợ trẻ
của cậu ta đã thường xuyên “đi lại” với “sếp” của chồng mình.
Do tình cờ bắt gặp vợ đang “liên hoan”
với “sếp” trên giường trong một khách sạn sang trọng. Cậu này mất bình tĩnh đã
tát vợ một cái rõ đau và đạp cho “sếp” một cái rõ mạnh.
Cái tát, làm má vợ sưng vác lên, nhưng
rồi cũng dần dần xẹp xuống, còn cái đạp vào “chỗ kín” của “sếp” thì quả là tai hại.
Lúc đưa đến bệnh viện cấp cứu, bác sĩ cũng đành bó tay. Do cái đạp quá mạnh nên
“hai viên ngọc quý” bị “bét nhè” cả rồi, chỉ
còn cách “bỏ” đi, không sao “vê tròn lại” được nữa!
Khổ nỗi “sếp” lại là con một của một vị quan
lớn, chưa kịp lập gia đình, vì còn bận
“kiến thiết đất nước” và “ban phát ân huệ” cho “chúng sinh”!
Bị đưa ra truy tố trước tòa, tay kỹ sư
này cũng không cãi câu nào. Tòa án hỏi cậu ta câu cuối cùng là có ăn năn, hối
hận gì không? Cậu ta đã trả lời cộc lốc một câu:
- “Không!”
Vào tù, do có nghề xây dựng nên anh ta
được Ban Quản giáo giao cho việc chỉ huy xây dựng doanh trại.
Anh ta là chỉ huy, còn tôi là phu hồ, nên
thỉnh thoảng cũng có gíáp mặt chào hỏi nhau qua loa. Anh ta ít nói, khá lì lợm,
nhưng giỏi chuyên môn và hơi độc đoán.
Thời gian cứ thế trôi dần đi, chúng tôi
thì ngày càng thân nhau hơn. Cuối cùng hằng ngày không gặp nhau một lần là thấy
nhớ.
Sau này tôi mới biết anh ta sinh trưởng
trong một gia đình nghèo ở ven thành phố. Cha mẹ anh đã phải làm lụng trầy trật
để tồn tại, để nuôi hai đứa con ăn học. Anh cũng đã phải cắn răng lại trong
khốn khó, cố học để giành bằng được mảnh bằng kỹ sư.
Khi báo cáo tốt nghiệp vào loại ưu, anh
đã được đích danh tay Giám đốc nọ nhận vào Công ty hắn.
Có lần anh đã tỷ tê tâm sự với tôi:
- Đúng ra thì cô ta không có lỗi. Lỗi là
ở tôi! Ai bảo đã nghèo lại lấy vợ đẹp! Các cụ chẳng đã nói: “Vợ đẹp, là vợ
người ta” đó sao?!
Khi đã lấy được vợ đẹp thì phải cố mà làm
giàu bằng mọi cách để có tiền làm “vui lòng cái đẹp” chứ!
Cái “lý sự cùn” ấy cứ lởn vởn mãi trong
óc và cách nhìn “cay đắng” ấy làm tôi nghĩ về anh ta “một con người thật già
nua, thật cằn cỗi”!
Anh còn dặn dò tôi là phải cố nghiêm
chỉnh chấp hành án. Chờ khi nào mãn hạn tù, chúng tôi sẽ có cơ hội gặp lại
nhau.
Lần đầu tiên trong đời tôi được một người
đàn ông nghiêm chỉnh để ý đến mình, lo lắng cho mình. Tình cảm của chúng tôi
cũng rất nghiêm túc. Không hề lợi dụng, hối thúc.
Anh mãn hạn trước tôi vài năm. Ra tù anh
còn kịp kiếm việc làm để nuôi mẹ già và cô em gái đến khi mẹ anh trăm tuổi và
cô em gái lập gia đình.
Lúc tôi mãn hạn, anh đến đón ôm chặt tôi
trong lòng nghẹn ngào, đầy xúc động.
Về với anh hơn một năm sau, tôi sinh cho
anh một cháu gái bụ bẫm, kháu khỉnh.
Những tưởng hạnh phúc đã mỉm cười với
gia đình chúng tôi từ đấy.
***
Song như các cụ nói “họa vô đơn chí”, tức
là tai họa không chỉ đến một lần!
Hôm ấy đi chợ về, thật vô phúc, tôi lại
chạm trán ngay với lão lớp trưởng kiêm bí thư cũ hồi học ở Bách khoa. Bây giờ
đã là “một sếp lớn” hết sức “phong độ”.
Hắn vẫn nhận ra tôi. Đầu tiên hắn buông
lời suồng sã. Tôi im lặng, cố né tránh.
Nhưng có lẽ hắn lại cho rằng: “Im lặng là
đồng ý!” Và rồi thật không ngờ ngay ban ngày, ban mặt, giữa chốn đông người,
hắn đã vồ lấy tôi như một con dã thú.
Do phản xạ tự nhiên, tôi cuống quít chống
cự và gạt mạnh hắn ra.
Nhưng thật không may, con dao nhỏ sắc lẻm
tôi mới mua để trong rổ cái ăn đã cứa một nhát vào động mạch chủ của hắn. Một
dòng máu tím đen ở cổ hắn phun ra phè phè và rồi chỉ một loáng sau hắn đã nghẻo
rũ xuống như một con gà bị cắt tiết.
Tất nhiên người ta lại bắt tôi, lại đưa
tôi vào trại giam, lại họp hành, lại kết án.
Lần này tôi bị kết án là cố ý giết người!
Mặc dù có rất nhiều người chứng kiến sự việc hôm ấy đã đến cơ quan hành pháp
thanh minh giúp.
Nhưng chúng tôi làm sao mà “cãi lại” cho
được, khi thế lực bên nguyên, chức vụ đã cao, tiền của lại nhiều.
Do đã có tiền án nặng trước kia, kết hợp
với tội danh cố ý giết người lần này, người ta tuyên án tôi tội tử hình.
Hôm thi hành án. Chồng tôi bế con ra pháp
trường, cũng chẳng biết anh ấy đã kêu cầu, chạy chọt những đâu mà người ta cho
anh bế con bé ra sát cột bắn. Từ lúc bị bắt, bị kết án, rồi dẫn ra pháp trường
tôi không hề nhỏ một giọt nước mắt. Nhưng đến lúc môi con bé chạm vào má thì
tôi đã òa lên khóc nức nở, không sao kìm lại được. Những giọt nước mắt đã tràn
ra ào ạt như một dòng thác vỡ bờ.
Khẩu lệnh đã vang lên, tôi nghiến răng
chờ những viên đạn lao đến cắm vào người mình.
Súng nổ, tôi ngất đi, không biết gì nữa.
Sau đó tỉnh lại trong trạm cấp cứu của
trại, tôi được trả về trại giam tử tội. Gần một tháng sau tôi được xử lại, giảm
án từ tử hình xuống chung thân. Hơn một năm sau đó, do có một luật sư giỏi cãi
hộ, tôi lại được giảm án xuống có ba năm tù giam.
Lời buộc tội của tòa án được sửa lại từ
tội danh cố ý giết người thành tội ngộ sát.
Sau ba năm ra tù, tôi được chồng bế con
đến tận cổng trại giam đón. Tôi đã vồ lấy hai bố con nó mà khóc như mưa.
***
Sau này lúc vui vẻ, chồng tôi có hỏi sao
khi bị trói vào cột để bắn vẫn không khóc, mà lúc được con hôn thì lại khóc ghê
thế!?
Tôi chỉ biết giụi đầu vào ngực anh mà
không nói được gì!
Mãi lâu sau này tôi mới biết những người
lính trong đội thi hành án biết chuyện của tôi, họ cũng không đồng tình với bản
án Tòa đã tuyên; vì thế họ đã cố tình bắn vào chỗ không hiểm. Còn ban chỉ huy
trại thì vì mê tín cho rằng đã nổ súng mà phạm nhân không chết tất có oan khuất
gì đây, phải cho hồi trại, chờ lệnh mới.
Chính vì thế mà tôi không bị giết chết.
Ông luật sư cãi cho tôi từ chung thân
xuống ba năm tù cũng không lấy một đồng tiền công nào, sau này còn đi lại chơi
bời như bạn bè với gia đình chúng tôi nữa.
Lúc ngồi viết những dòng này, tôi đã
ngoài sáu mươi tuổi, đã có tới ba đứa cháu ngoại, đứa lớn đã vào đại học.
Đã già rồi tôi mới thấm thía câu bố tôi
thường nói lúc cụ còn sống:
- “Sống, thật là vất vả!”
Gia đình tôi mỗi người mỗi việc, vẫn vất
vả làm lụng kiếm ăn từng bữa, không giàu có, nhưng hạnh phúc.
Hà Nội, 2011.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét