Đã chạng vạng chiều tôi mới đến chùa.
Ngôi chùa nhỏ nằm mãi tận vùng heo hút bán sơn địa này mà ngay cái tên của nó
cũng rất quê kiểng, mộc mạc: Chùa Nùi.
Tôi đến chùa chẳng phải để lễ Phật hay
cầu tài, cầu lộc gì, bởi tôi biết có cầu cũng chẳng được. Tôi đến chùa là để
thăm sư cụ trụ trì, vì cụ là anh ruột mẹ tôi. Gặp tôi ngoài cổng, ông cụ nở nụ
cười đôn hậu rồi vui vẻ dắt tay tôi vào trong nội điện.
- A di đà Phật! Bạch cụ, cụ vẫn khỏe chứ ạ?
- Chỉ có hai bác cháu, mà vẫn gọi bác là
sư cụ à? Ông nói rồi cười để hở hàm răng chỉ còn vài chiếc.
Tôi ôm lấy ông bác già, gày gò đã trên
chín mươi tuổi của mình mà lòng thấy rưng rưng.
Không phải ông không có gia đình, hay quá
nghèo khổ mà phải nương cửa Từ bi. Ông có một gia đình đàng hoàng và hạnh phúc.
Bác gái tôi là một người đàn bà tươi tắn và đảm đang nhất vùng. Ông bà có tới
năm người con. Họ đều đã trưởng thành, ông con thứ hai hiện đang làm chủ tịch
Ủy ban nhân dân của một Thị xã đông đúc và thịnh vượng ngay trong tỉnh.
Khi ông quyết định quy y cửa Phật. Mọi
người đã ra công khuyên can, nhưng ông chỉ mỉm cười không nói và vẫn không thay
đổi ý định của mình.
Đến nay ông đã nương cửa Bồ Đề được hơn
chục năm rồi. Lương hưu ông khá cao, ông để lại cả cho bà.
Giằng co mãi bà bảo:
- Ông để cả lương ở nhà cho tôi thì ông
sống bằng gì?
- Chả lẽ sư lại có lương hưu ư? Ông cười
và nói vui như vậy. - Bà đừng lo!
Khi trẻ, ông đã từng là một cán bộ hoạt
động cách mạng, có nhiều đóng góp và thành tich. Vào Đảng từ những năm ba mươi
và đã từng là Phó ty Cảnh sát một tỉnh to và quan trọng nhất nhì thuộc Chiến
khu Việt Bắc.
Nguyên do làm sao mà quãng cuối đời ông
lại vào chùa cạo đầu đi tu! Chẳng ai trả lời được. Bác gái tôi đã khóc rất
nhiều, than thở rất nhiều, nhưng những điều bà ta thán thì không ai chia sẻ
được!
Ngay cả anh con bác đang làm Chủ tịch Thị
xã, rất nhiều hiểu biết, rất lắm lý luận cũng không sao thuyết phục được cha mình.
Cuối cùng cả nhà đành chấp nhận giải pháp để ông đi tu và bảo nhau chỉ
cần chú ý chăm sóc ông là được.
Trong số các cháu con, họ hàng, thì tôi
là người có vẻ ông gần gũi hơn cả. Hay quan tâm, thường hỏi han, khuyên bảo và
đôi khi còn tâm sự nữa.
Tôi cũng muốn tìm hiểu về sự tình này,
nhưng lần nào ông cũng lảng tránh.
Hôm nay tôi đến thăm ông vì cách đây ít
lâu, sau lần ông bị cảm đột xuất tưởng đã không qua khỏi. Tôi còn nhớ đó là hôm
tôi có việc đi qua, ghé vào chùa thăm bác thì thấy mấy sư bác, sư thày đang cuống
lên vì đột nhiên ông bị sốt rất cao, mê man. Trong cơn mê ông đã gọi tên tôi
nhiều lần. Tôi vội vàng đưa ông đi bệnh viện thì bác sĩ đã nhìn tôi lắc đầu,
thở dài.
Tôi vội gọi điện cho các anh, các chị con
ông để báo tin và khi mọi người đổ xô đến nơi thì đột nhiên ông hồi phục trở
lại, cười nói vui vẻ với mọi người:
- Tôi chưa đi được đâu! Còn phải ở chùa
sám hối dăm năm nữa!
Mọi người trong nhà nhất quyết đưa ông
về.
Sau đó tôi có qua thăm vài lần, nhưng từ
khi về nhà, ông như người nào khác hẳn. Lầm lì, ít nói hẳn đi, suốt ngày chỉ đăm
chiêu, ủ đột.
Tôi có xin ý kiến của cả nhà nhưng khi
hỏi ông, ông chỉ thở dài nói:
- Tôi sống đã đủ rồi. Giờ đây tôi muốn
được một mình yên tĩnh để suy nghĩ lại quãng đời trước kia, đã sống thế nào.
Cái gì đúng, cái gì chưa đúng.
- Bố đã cống hiến cả đời cho cách mạng,
cho đất nước. Hàng chục huân chương, huy chương mà nhà nước tặng thưởng cho bố
đã chứng minh cho cuộc đời của bố thế nào rồi. Ai dám bảo là bố sai, ai dám bảo
bố không đúng chứ!
Ông con chủ tịch đã lớn tiếng nói trước
mọi người như vậy. Mà mọi người cũng nghĩ là như vậy!
Nhưng ông cụ thì chỉ mỉm cười rồi nhẹ nhàng
nói:
- Những cái mọi người nhìn thấy, trông
thấy là bề ngoài, chỉ là mặt trước của tấm huân chương. Cái gì cũng có
những góc khuất. Huân chương cũng còn có hai mặt cơ mà!
- Lại thế nữa! Mọi người chép miệng thở
dài và đều cho là ông quả đã lẩn thẩn thật rồi!
- Thế bây giờ cụ muốn gì?! Bà vợ già của
ông vừa thấm nước mắt vừa cười hỏi!
- Cho tôi về chùa cũ, tôi sẽ cẩn thận
hơn!
Bàn soạn mãi rồi cuối cùng mọi người cũng
đành chiều “ông già” lẩm cẩm vậy. Tôi đã về hưu lại rỗi rãi, nên được toàn gia
tộc họ ngoại tín nhiệm cử việc chăm nom và “theo dõi” ông “sư cụ bác”!
Thế là một tuần hai lần tôi lên chùa,
không để tụng kinh, không để gõ mõ, không để cầu tài, cầu lộc, mà để thăm nom
và “theo dõi” ông bác già!
Hôm nay cũng vậy. Hai bác cháu vào chùa.
Tôi có mang theo ít trà ngon để cụ dùng. Thực ra hằng tháng gia đình cũng đã
dâng cho chùa một khoản tiền gắp hai tháng lương hưu của ông cụ. Người quản lý
đã nói là khoản tiền ấy đủ để nuôi tất cả mọi sư sãi trong chùa, nên không cần
tiếp thêm lương thực, thực phẩm cho ông nữa. Nhưng lên thăm bác lần nào tôi
cũng mang chút ít gì đó là để tỏ tình cảm yêu quí ông.
Khi đã xong các thủ tục ban đầu như thăm
hỏi người này, người nọ và khi tôi vừa nhâm nhi ngụm trà đặc sánh do ông bác
vừa pha. Tôi nhìn kỹ bác, thấy ông gìà hẳn hơn hôm mới trở lại chùa đến chục
tuổi.
Tôi xót xa, rồi ngập ngừng hỏi:
- Bác ơi, bác có điều gì còn để mãi trong
lòng. Bác có muốn sẻ chia cùng cháu không!?
- Thực ra nói là không có thì cũng không
thật đúng, mà nói là có thì cũng chẳng có gì, cháu à!
- Nhưng khi nói ra được, sẽ cảm thấy nhẹ
nhàng, thanh thoát hơn là giữ nó ở trong lòng. Vả lại cháu đâu phải là người xa
lạ!
Mãi sau ông mới ngập ngừng nói:
- Trong đời, cháu đã bao giờ nói dối chưa?
- Thi thoảng thôi ạ, mà cũng ở tình trạng
bất khả kháng(1). Với lại nói dối mà không làm tổn hại cho người khác, đôi khi còn lại mang một kết quả tốt hơn là nói thật!
- Nhưng nếu ngược lại!?
- Thế thì phải xem xem cái đã!
- Trường hợp vì lời nói dối của mình mà
làm người khác phải mất mạng, thì nên nghĩ thế nào?
- Còn phải xem mục đích cụ thể là gì chứ
ạ!
- Tất nhiên khi nói tới mục đích, thì
người ta sẽ không thiếu gì lý do để biện minh cho việc mình làm.
- Chẳng lẽ trong cuộc đời hoạt động đầy
gian khổ, khó khăn của bác, bác đã làm một việc gì đấy mà bây giờ nghĩ lại bác
thấy áy náy sao?!
- Không phải là áy náy. Mà đến giờ bác cứ
tự hỏi mình những câu hỏi, rồi lại tự mình trả lời. Có những câu hỏi bác không
trả lời được.
- Những câu hỏi gì mà bác không trả lời
được ạ?
- Bác sẽ kể cháu nghe vào một dịp thích
hợp!
- Thế câu hỏi ấy có phức tạp lắm không ạ?
- Cũng đơn giản thôi. Bác cứ tưởng tượng
rằng nếu đổi địa vị cho nhau, khi có người nói với bác một điều gì đó. Vì tin
lời nói của anh ta, mà bác đã mất mạng! Trước khi chết bác sẽ nghĩ về anh ta
thế nào? Chỉ có thể nghĩ thế này: - “À, thì ra mày chỉ là một tên “lừa đảo,
đểu cáng”! Có bao giờ cháu nghĩ bác là một tên “lừa đảo, đểu cáng” không?
- Không khi nào bác lại là một người như
thế được! Có thể bác đã phải nhận một nhiệm vụ trên giao cực kỳ khó khăn! Không
làm, không được!
- Ai cũng có thể nói như thế! Kể cả tên
lưu manh, lớn hơn nữa thì những kẻ giết người, bọn làm loạn, tên ném lựu đạn
vào đám đông cũng có thể nói “Vì mục đích này, mà tôi phải làm thế này!”
Nhưng ai cũng chỉ có một cuộc đời. Ai
cũng nghĩ là mình đã đúng, cũng cho việc làm của mình là phải. Cho nên lấy suy
nghĩ của mình để áp đặt cho người khác. Rồi lấy “cái phải của mình” để làm tiêu
chí hành động cho mọi người. Thì thế có phải là cực đoan, có phải là “phát-xit”(2) không?
***
Ít lâu sau, tôi có việc phải đi vắng một
thời gian, không đến thăm ông “sư cụ bác” thường xuyên được. Thế rồi ở nơi xa
một hôm tôi nhận được một “cú phôn” của bà bác, nói là ông bị mệt nặng, muốn
gặp tôi. Đúng lúc đang thu xếp để về thì ông anh chủ tịch đã mang xe đến đón tôi tận
nơi.
Về đến nhà thì ông “sư cụ bác” đang nằm
cấp cứu ở bệnh viện tỉnh rồi. Tôi vào ngồi cạnh ông, nhìn nét mặt yếu mệt nhưng
thanh thản của ông mà lòng cảm thấy như sắp mất đi một cái gì thật quý giá.
Ông nắm tay tôi, khó nhọc nói:
- Bác còn chưa cho cháu biết cái kết thúc
của câu chuyện mà hai bác cháu mình nói dở hôm trước, chuyện đó làm bác cứ trăn
trở mãi đến bây giờ. Có thể đây là lần nói chuyện cuối cùng của bác cháu ta về
chuyện ấy, cháu có thời gian nghe bác nói không?
- Cháu đã về đây, là để nghe bác
nói.
- Chuyện xẩy ra vào giữa năm một nghìn chín trăm bốn bảy. Lúc ấy
bác mới là trưởng đồn: đồn Công an Cầu Nại, thuộc huyện Hưng Nhân, Thái Bình.
Đồn bác đang quản thúc năm phạm nhân mang trọng án.
Họ cũng trạc trung niên, trên dưới bốn
mươi như bác. Một hôm bác nhận được lệnh từ trên là phải giải năm người này về
Ty cách đồn bác gần mười cây số. Hồi đó làm gì có phương tiện như bây giờ. Chỉ
có thể cùng nhau đi bộ trên đường làng, hoặc đi
tắt cánh đồng.
Mang tiếng là một đồn công an, có sáu
người, mà cả cơ nghiệp chỉ có một khẩu súng trường cổ của Pháp, ba viên đạn và
năm thanh mã tấu. Chưa ai được tập bắn bao giờ, mà cũng chẳng biết đạn có bị
“thối” không nữa!
Năm phạm nhân này đều là dân giang hồ,
mạnh khỏe, lại rất liều lĩnh. Trong hồ sơ của họ thì thành tích cũng vô cùng
“oanh liệt”. Ăn cướp, giết người, buôn lậu có người còn từng làm tay sai cho
giặc nữa.
Sau mấy đêm suy nghĩ, bác vẫn không tìm
ra biện pháp gì để thi hành lệnh của Ty. Chẳng lẽ cả đồn sáu người cùng đi giải
phạm nhân. Cuối cùng bác nảy ra một ý thế này: bác bảo anh em trong đồn mua cái ăn
về cùng đánh chén một bữa thật no say với cả năm phạm nhân ấy. Rồi nói rằng bác
được lệnh đưa họ về Ty để trả lại tự do cho họ. Họ có thắc mắc là sao không thả
họ ngay từ đây. Bác giải thích rằng đồn không có quyền phóng thích phạm nhân.
Lại còn lên Ty để làm thủ tục giấy tờ nữa chứ, trên Ty mới có dấu má để đóng
vào quyết định thả phạm, đúng không!?
Thế là không ai nghi ngờ gì cả. Có người
còn nhất định đòi trả tiền bữa ăn cuối cùng ấy. Có một cậu trẻ nhất, cao to,
mắt sáng đã ôm lấy bác khóc và nói là sau này được tự do sẽ tìm kỳ được bác để
xin kết nghĩa anh em, vì trong thời gian bị giam ở đây cậu ta đã tìm hiểu, biết
bác là người đứng đắn.
Thế rồi một mình bác cùng với năm phạm
nhân cực kỳ nguy hiểm, không vũ khí, không xích xiềng, chỉ bằng mấy lời nói dối
đã đưa họ về giao cho Ty an toàn.
***
Ngay đêm ấy họ bị đưa ra hành quyết(3)
giữa cánh đồng bằng những nhát mã tấu ghê rợn. Lúc ấy bác cũng có mặt ở đấy.
Người trẻ tuổi có ý định nhận bác làm anh em kết nghĩa, lúc đi qua chỗ bác
đứng, đã nhổ một bãi nước bọt xuống đất và nhìn bác với ánh mắt cực kỳ khinh
bỉ.
Đến bây giờ đã trải qua trên nửa thế kỉ,
bác vẫn không sao quên được ánh mắt khinh ghét ấy!
Nếu có dịp gặp lại, bác sẽ cúi đầu tạ lỗi
cùng cậu ta mà nói rằng:
- Anh không có cách lựa chọn nào khác.
Xin hãy tha lỗi cho anh.
Hà Nội,2013.
(1) Bất khả kháng: không thể chống
lại
(2) Phát-xít: Nhóm cực đoan, không
hợp với tình thế
(3) Hành quyết: thi hành án tử hình
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét