Ở cái làng Lê nhỏ bé ven thành Nam này ai mà
không biết Đội Ngự. Đó là một người đàn ông già, độc thân và nghèo nhất làng.
Thực thì chẳng thiếu gì người nghèo, mà đã nghèo thì thường
độc thân. Nhưng vì sao tôi lại nói đến chuyện Đội Ngự.
Đó là một câu chuyện đã xảy ra hơn bốn
chục năm trước. Tôi là rể của làng nên khi biết thì Đội Ngự đã già.
Một buổi chiều khi tôi và ông bố vợ đang
nghỉ ngơi sau một ngày lao động vất vả, thì thấy Đội Ngự đi ngang. Ông bố vợ
tôi gọi giật lại:
- Ngự, Ngự vào đây đã.
Ông ta dừng lại và rẽ vào sân, miệng chỉ
mỉm cười không nói. Tôi gật đầu chào và nhìn kỹ ông ta. Đó là một người đàn
ông đã trên sáu chục tuổi, dỏng cao, chắc lẳn, tóc cắt ngắn gọn gàng và còn đen
nhánh, không một sợi bạc. Khuôn mặt cân đối nếu không nói là đẹp, nhưng trầm
lặng, u uất. Ông mặc một chiếc quần đùi đụp trước, đụp sau, vai vắt một cái áo
cánh cũ vá tứ tung, để lộ một thân hình khoẻ mạnh, cân đối và đen bóng.
Ba người chúng tôi
ngồi xuống chõng hút thuốc lào và uống nước chè tươi. Lúc lâu sau chưa ai nói
với ai câu nào. Đội Ngự đã uống hết hai bát nước và hút liền một lúc bốn, năm
điếu thuốc. Cứ nhìn ông uống nước và hút thuốc, ta tự nhiên thấy thèm, thấy
thích. Nó không vội vã như một người đói khát, cũng không rón rén như một kẻ
xin ăn. Cái điếu cày trong tay ông rung lên bần bật như một khẩu tiểu liên bắn
hết cỡ, một bụm khói to, đặc quánh được nhả từ từ rất duyên dáng bên miệng uốn
éo bay lên. Ông chiêu một ngụm nước, ngồi ngả ra sau, ẩn hiện trong quầng khói
thuốc đậm đà, lơ lửng, ta thấy những tia mắt lấp lánh như cười và hàm răng đều
đặn lộ ra sau cặp môi cân đối cũng như cười. Cứ quan sát ông, người ta thấy đó
là một ông già đĩnh đạc, đàng hoàng chứ không thể nghĩ rằng đó lại là một nông
dân cực kỳ nghèo khổ, áo quần rách nát, không một chỗ trú thân khi mưa nắng,
quanh năm chỉ biết đi làm thuê để đổi lấy mấy miếng cơm ăn.
Đội Ngự không mấy
khi không cười. Ông cười lúc làm nặng nề nhất, vất vả nhất, lúc trời nắng đổ
lửa cũng như lúc mưa giông. Ông cười sau khi làm việc cả ngày chỉ được ăn vài
vực cơm tương mắm, ông cười cả những lúc gặp kẻ tồi còn quỵt cả bữa cơm độc nhất
trong ngày, mà ông đã phải làm việc cật lực cả ngày trời cho họ. Có điều ông
chỉ mỉm cười, mà không cười thành tiếng.
Ông khoẻ mạnh, cần
cù, làm việc miệt mài ít nghỉ ngơi, vì thế công việc cứ đi băng băng. Việc họ
nhờ ông đều là việc nặng nhọc, bẩn thỉu đến nhà nông cũng ngại. Công việc phải
vất vả để bõ bữa cơm mà người ta đã trả cho ông .
Lúc lâu sau, ông bố
vợ tôi bảo ông Ngự:
- Này, mai có rỗi
gánh hộ ít phân.
- Mai đi cày
cho bà Lạng rồi.
- Thế ngày kia?
- Chưa biết.
- Ừ, nếu ngày kia xong ruộng bà Lạng thì
ra đây sớm nhớ.
- Ừ.
Bố vợ tôi và ông Ngự
trao đổi với nhau như hai người bạn, vì thực ra hai ông cũng chỉ chênh nhau có
dăm tuổi lại là người cùng làng với nhau.
Bố vợ tôi quay sang tôi nói như giới
thiệu:
- Ông Ngự ngày xưa đi lính cho Pháp đã
đóng đến Đội.
- Ừ, xéc-giăng - Ông Ngự bổ sung không
chút do dự.
- Ông ấy rất giỏi
tiếng Tây, rồi bố vợ tôi hỏi luôn:
- Ăn cơm là gì?
- Măng giê.
- Thế chào ông?
- Bông-giua me-xừ.
Ông Ngự thản nhiên trả lời.
Thấy vẻ ngạc nhiên
thích thú của tôi, ông bố vợ của tôi hào hứng kể:
- Vợ ông Ngự là cô Mai con bà cụ Minh làng
Vọc, một con chiên ngoan đạo, xinh đẹp và hát hay nhất xứ đạo, cô còn là một Xã
Đội trưởng du kích gan dạ và dũng cảm của xã Mỹ-Thịnh ta đấy. Hồi địch tạm
chiếm, cô Mai là mối lo ngại ngày đêm của giặc Pháp ở cả cái vùng chiêm trũng
này.
Tôi ngạc nhiên hỏi lại ông Ngự:
- Thế bà nhà đâu rồi
ạ?
- Ở trên trời - Ăng
si-en. Ông Ngự ngước lên trời thản nhiên trả lời và quen mồm thêm cả tiếng Pháp
vào.
Tôi hiểu là bà ấy đã chết, vì thế để lảng
sang chuyện khác, tôi hỏi:
- Bây giờ ông đi đâu ạ?
- Ra kho.
- Ông đang làm ngoài kho?
- Không, ra ngủ!
Tôi nhìn bố vợ tôi ngầm hỏi vì sao lại ra
kho ngủ, mà lại ngủ từ bây giờ, vì lúc đó mới độ bốn, năm giờ chiều.
Bố vợ tôi biết ý trả
lời:
- Ông Ngự ngủ nhờ ở
kho hợp tác xã vì không có chỗ nào ngủ tốt hơn đấy. Ông ấy thì có chỗ ngủ mà
hợp tác lại không phải cử tự vệ canh thóc.
Bố tôi hỏi ông Ngự:
- Sao ngủ sớm thế, không ăn cơm à?
- Ăn trưa rồi.
Tôi hiểu rằng, dù có làm cả ngày thì
người ta cũng chỉ trả ông có một bữa mà thôi. Ăn trưa thì thôi tối. Kể ra thì
cũng chẳng đáng trách, vì cái anh đi thuê cũng có dư dật đâu mà hậu hĩ. ở cái
vùng này, nông dân làm quần quật một nắng, hai sương cũng chỉ đủ ăn là may rồi
nói chi đến dư dả. Làng này ông bố vợ tôi là vào loại khá giả, có miếng ăn,
miếng để, vả lại hai ông lại biết nhau từ hồi còn trẻ, cùng làng, cùng xã, nên
cũng ưu ái ông Ngự hơn người khác. Lý do nữa, tôi là rể về chơi, nên ông nhạc
cũng kiếm thêm chút cái ăn, lại cũng muốn tỏ ra là mình tốt hơn người khác, nên
ông mời ông Ngự:
- Ở đây ăn cơm đã,
rồi hãy về kho ngủ.
- Không ăn.
- Sao không ăn?
- Không làm, không
ăn.
- Nhưng tôi mời.
- Không ăn.
- Gàn bỏ mẹ! Thôi không ăn cơm thì ngồi
uống nước, hút thuốc.
- Ừ - Ông Ngự hút thêm hai điếu thuốc
nữa, uống một bát nước đầy rồi cầm áo đứng dậy nói:
- Tôi về. Ông nói và
đưa tay dắt một vê thuốc nữa lên mang tai.
- Nhớ đấy, ngày kia
không làm cho bà Lạng thì sang sớm bên này gánh phân đấy. Bố vợ tôi dặn với.
- Ừ. Vừa nhận lời
ông Ngự vừa đi.
Khi ông Ngự vừa đi khuất, bố vợ tôi giải
thích thêm với tôi:
- Thằng cha này làm khoẻ bằng hai, bằng
ba người khác. Không biết nói dối, không trộm cắp, cho thì lấy không thì thôi,
không đòi hỏi. Anh có chú ý lúc về lão ta dắt thêm một vê thuốc lào nữa vào
mang tai để tối có thèm bứt lá chuối hút đấy, chứ tịnh không lấy của ai từ quả
chuối, bắp ngô, không làm không ăn, mời cũng khó.
Tôi hỏi thêm:
- Thế còn lúc không có ai thuê mướn?
- Hợp tác xã cũng cho mỗi tháng dăm cân
thóc. Lúc đói nhờ sát rồi nấu cháo mà húp.
- Thật tội nghiệp! Ông ta không còn ai
thân thích nữa hả bố?
- Không còn ai cả. Kể ra thì cũng đáng đời, nhưng nghĩ lại
thì cũng đáng thương. Nhưng có thương cũng chịu. Bây giờ ốc chẳng mang nổi mình
ốc, làm sao mà cưu mang nhau được nữa. Vì thế ông ấy cũng ngày no, ngày đói,
lại cũng đã già, đến lúc không còn làm được nữa thì lấy gì mà sống. Nói rồi bố
vợ tôi thở dài se sẽ.
Hai hôm sau ông Ngự đến rất sớm gặp bố vợ
tôi, ông hỏi:
- Gánh phân chuồng nào? Bỏ ruộng nào?
- Gánh hết chuồng sau bếp, rồi đến chuồng
cạnh cầu ao, bỏ cả ở ruộng cánh đồng Cỏ Lác.
- Miếng chéo ấy à? Ông Ngự hỏi lại.
- Ừ.
Sau khi ăn dăm củ khoai luộc, uống một
bụng nước, hút thật đã thuốc lào, ông Ngự vắn thừng tìm đòn, thúng trên nóc
chuồng lợn thành thuộc như người nhà, đoạn ông cởi áo lội vào cào xúc. Cái nết
ông làm cũng như cái nết ăn, nết uống, khoẻ, miệt mài, nhưng không hùng hục.
Gánh phân của ông phải sáu, bảy chục cân mà gọn gàng, nhẹ nhõm như người ta chỉ
gánh có ba, bốn chục cân thôi.
Quá trưa nghỉ ăn cơm. Lúc giục ông Ngự
rửa tay để đi ăn, ông khựng lại ngỡ ngàng một chút, rồi thản nhiên làm theo yêu
cầu của nhà chủ.
Mấy hôm sau tôi phải về cơ quan làm việc
và rồi cũng quên chuyện ông Ngự mà đã dấp dính mấy lần cứ định hỏi ông bố vợ
tôi.
Bốn năm sau, tôi lại có dịp về quê vợ dăm
ngày ăn cưới cậu em út nhà tôi, và tôi lại có dịp gặp ông Ngự. Ông không khác
đi mấy tý, nhưng gầy và chậm chạp hơn.
Một ý nghĩ day dứt về ông, một con người
gần bảy chục tuổi đầu, tứ cố vô thân, không nơi nương tựa, không người thân
thích, không có ngày mai.
Hàng ngày vẫn phải nai lưng làm lụng cực
nhọc để sống đắp đổi qua ngày.
Tôi cố đợi một dịp thuận tiện để tìm hiểu
kỹ về ông, và rồi thật may ông bố vợ tôi đã giành một buổi để kể về Đội Ngự cho
tôi nghe:
- Tôi biết Đội Ngự từ những năm ba nhăm,
ba bảy. Lúc đó anh ta còn là một thanh niên trẻ trung, khoẻ mạnh, con nhà khá
giả, con ông Khán Thành bên Mỹ Thuận, đã học hết thành chung, mà hồi ấy như thế
là phải ăn khao hàng huyện rồi. Ông bố cũng muốn cho anh ta học lên nữa để rồi
làm quan. Nhưng do anh gặp rồi mê cô Mai bên Vọc, nên nhất quyết không chịu lên
tỉnh học nữa, để được quanh quẩn gần nhà, gần người yêu.
Khổ nỗi cô Mai lại là con chiên của xứ
đạo, mà gia đình chỉ có một mình cô, nên bố mẹ cô nhất quyết không gả cho người
bên Lương. Đã có lần bố mẹ Mai nhắn nếu Ngự chịu bỏ Lương theo Đạo thì cho làm
rể. Nhưng bố mẹ Ngự lại nghĩ gia đình mình khá giả, con trai lại học hành nhất
nhì Huyện mà phải bỏ cả thờ cúng để theo yêu cầu nhà gái thì mất thớ quá nên
cũng khăng khăng không chịu. Và thế là thiên tình sử của đôi trai tài, gái sắc
ấy đã có hồi lâm ly, bi đát như cải lương vậy.
Cô gái xinh ngoan ấy đã có lần định tự tử
để dâng trọn tấm tình cho người mình yêu dấu. Còn cậu thanh niên giỏi giang này
thì phẫn chí xung vào lính Bảo An mà dân quê thường gọi là “lính bắt gà”, chứ
nhất định không chịu lên tỉnh học nữa.
Họ vẫn lén lút gặp nhau chờ một cơ hội
thuận tiện để có thể nhảy qua được cái hàng rào tôn giáo mà ở cái vùng quê hẻo
lánh này nó nặng nề và cố chấp biết bao.
Do có trình độ văn hoá lại là người tháo
vát, nhanh nhẹn nên dăm năm sau Ngự đã được thăng cấp chỉ huy lên tới Đội.
Đội Ngự về làng ăn khao và nói với bố mẹ
sang xin Mai lần nữa.
Do thế lực nhà trai mà bấy giờ đến Chánh,
Lý cũng phải kính nể, lại do thái độ đúng mực chân tình của Ngự. Mối tình đẹp
đẽ của đôi trai gái ấy đã thuyết phục được bên nhà gái khó tính. Và thế là chỉ
ít lâu sau một đám cưới rất to, rất vui được tổ chức.
Mãi lâu sau đó người ta còn nhắc tới cái
vui, cái ngồ ngộ của đám cưới nửa Lương, nửa Đạo này. Có cái bên này cấm, có
cái bên kia kiêng nhưng rồi đâu cũng vào đấy, nó vẫn được diễn ra hết sức tốt
đẹp. Thế mới biết yêu nhau tam tứ núi cũng trèo, ngũ lục sông cũng lội...
Ông bố vợ tôi kết một câu rồi vớ lấy cốc
nước để uống, tôi đưa điếu và châm đóm cho ông. Ông rít một hơi thuốc, ngồi
trầm ngâm, khói thuốc vương vấn, vương vấn mãi không tan làm bầu không gian
huyền ảo lung linh như trong một câu chuyện cổ.
Lát sau tôi gợi ý:
- Chắc là họ hạnh phúc lắm.
- À, cái đó thì đã hẳn - Ông bố vợ tôi
bừng tỉnh - Đấy là môt cặp vợ chồng rất đẹp đôi và hạnh phúc. Họ sống bên nhau
như một cặp uyên ương, nhưng họ chỉ đồng tâm chứ không đồng chí.
- Vì sao ạ? Tôi ngạc nhiên hỏi dồn.
- À, cô Mai dù là người bên Đạo, nhưng
lại là thành phần cốt cán nên tổ chức Kháng chiến đã tin tưởng ở cô, giao cho
những nhiệm vụ quan trọng. Do sự nhạy cảm và tinh tế của một phụ nữ đẹp lại
thông minh, cô đã hoàn thành suất sắc những nhiệm vụ trên giao. Cô đã được kết
nạp vào Đảng và lĩnh một trách nhiệm hết sức nặng nề Xã đội Trưởng du kích của
cả cái vùng ven hết sức phức tạp này, lẫn lộn Tây với Ta, Lương với Giáo.
- Thế chồng cô có biết không ạ? Tôi hỏi.
- Chắc là có biết vì họ rất gắn bó với
nhau. Nhưng như hai đường tàu hoả cứ chạy bên nhau mà chẳng bao giờ gặp nhau
được. Họ ở hai chiến tuyến, hai phía đối địch, mà tình yêu dù đẹp đến mấy cũng
không thể làm cho họ trở thành đồng chí của nhau được.
- Thế sao mình không giáo dục để cải tạo
anh ta quay trở lại?
- À, đấy là chuyện trên sân khấu hoặc của
mấy anh văn sĩ bã mía. Bọn họ có thể ép duyên quỉ dữ với thánh thần một cách
thân thẩn, chứ còn trên thực tế thì làm sao lại có chuyện cải hoá con người
giống phép thần thông của Tôn Ngộ Không như thế được. Ai cũng có cái lý của
mình và đều cho mình là đúng, cũng chính vì họ có văn hoá, họ lại tôn trọng
nhau nên không ai nỡ áp đặt cho ai cả.
Tôi đỏ tai vì câu nói vô tình của ông cụ
và cũng thật may lúc bấy giờ chiếc đèn dầu vặn nhỏ không đủ tố cáo rõ sự nông
cạn và ấu trĩ của mình.
Tôi vờ uống nước và gợi ý:
- Thế rồi chắc cô Mai đã hy sinh trong
một trận chống càn oanh liệt.
- Ấy đấy, kể cứ như vậy thì cũng đã làm
cho Đội Ngự đau đớn đến mất tỉnh táo rồi. Đằng này chuyện lại xẩy ra hết sức
thương tâm, mà đến bây giờ cứ nhắm mắt lại là tôi vẫn thấy hiện lên rất rõ cái
quang cảnh buổi sáng khủng khiếp ấy - Ông cụ dừng một lát rồi kể tiếp - Cô Mai
không chết trong trận càn quy mô năm 1952 ấy, còn địch lại rất cay cú vì những
trận đánh mìn phá cả một đoàn xe quân sự của Pháp khi chúng đang chạy trên quốc lộ 21. Nhưng cũng rất không may cho cô Mai là trong xứ Đạo có một tên chó má.
Đó là thằng Mỳ, anh họ xa của Mai, đã có thời hắn mê cô ta như điếu đổ, nhưng
những cuộc chinh phục của hắn đều thất bại.
- Thế hắn theo Tây
ạ? Tôi hỏi.
- Trước thì hắn cũng
là một dân quân dưới quyền chỉ huy của cô Mai. Nhưng do ấm ức về những quyền
lợi chia bôi, những chức vụ mà hắn cứ tưởng người ta sẽ trao cho hắn nhưng đánh
đùng lại thấy người khác nhận. Nhưng ấm ức nhất vẫn là cuộc kết hợp Lương Giáo
rất hạnh phúc của vợ chồng Ngự, nó cứ như một mũi dao đâm thẳng vào tim hắn,
làm cho hắn chẳng làm sao mà sống yên ổn được. Sự đố kị, sự ghen ghét gậm nhấm
hắn và dần biến hắn từ một du kích thành một tên chỉ điểm.
Không ai ngờ trong
một lần đi thị sát địa bàn để bố trí đánh đồn chợ Mạng, cô Mai và hai đồng đội
nữa đã bị bắt. Hai du kích kia bị bắn ngay sau đó. Còn Mai thì địch giữ lại để
khai thác. Và do tên Mỳ cung cấp tin, địch đã biết Mai là vợ Đội Ngự nhưng lại
là một Đảng viên, và là người Xã đội trưởng mà chúng cay cú nhất.
Người ta kể lại
rằng, cô Mai đã không để lộ một chút tin tức gì cho địch, và cũng không nhận là
vợ Đội Ngự.
Đội Ngự thì vừa để
bảo vệ cho mình, cho vợ, và cho cả Cách mạng, cũng không thừa nhận một điều gì,
kể cả nhận vợ nữa.
Điều ấy làm cho địch căm tức. Chúng đã
nhiều lần tra tấn Mai ngay trước mặt Ngự. Sau biết không thể khai thác và khuất
phục được người nữ du kích xinh đẹp và dũng cảm ấy, địch đã quyết định đem xử
bắn Mai.
Tôi nhớ rõ đó là một sáng đầu thu. Trời
mát mẻ nhưng âm u. Mọi người bị xua ra bãi Nổi giữa đồng từ tờ mờ đất. Trường
bắn được thành lập rất nhanh, có đến trung đội lính Tây Đen vũ trang đầy đủ, do
một tên quan Hai lai Pháp chỉ huy.
Cô Mai được lôi từ xe căm-nhông xuống.
Mái tóc đen dài như một chiếc khăn voan rất đẹp xõa tung trên đôi vai trần mà
chiếc áo nâu đã bị rách toác và bết máu không còn che kín được. Khuôn mặt Đức
Bà với cặp môi sưng mọng, bầm dập và cặp mắt trẻ thơ ngơ ngác như không hiểu
được vì sao Chúa Trời đã chịu đóng đanh câu rút để chịu tội thay cho thế gian
mà nhân loại vẫn còn phạm nhiều tội ác đến thế.
Mai phải dựa vào tay hai tên lính Âu Phi
để lê ra cột bắn.
Chúng định bịt mắt cô, nhưng không biết
cô nói gì chúng lại thôi không làm nữa.
Đội Ngự đứng ngay gần đó, mặt đờ đẫn, tái
dại nhìn vợ như cố thu thật hết hình ảnh cuối cùng của cô.
Tên quan hai Tây lai
nhếch mép cười đểu cáng, hết nhìn Mai lại nhìn Ngự. Hắn hỏi xỏ xiên:
- Thế nào, hai người
có nhận ra nhau không? Nếu đúng là vợ chồng thật, tôi có thể xem xét lại.
Mai uể oải lắc đầu.
- Thế còn “me-xừ”
Ngự! Cô Mai có phải là vợ ông không? Nếu đúng là như vậy tôi có thể hoãn lệnh
thi hành án.
Ngự đưa mắt nhìn
Mai, Mai lại uể oải lắc đầu. Ngự cứ đứng lặng như một chiếc cột gỗ.
- Thế nào? Thình
lình tên Tây lai thét lên làm Ngự giật mình và như một phản xạ tự nhiên anh ta
cũng uể oải lắc đầu miệng lẩm bẩm:
- Không, không phải.
- Thế thì được. Tên Tây lai bực tức nói -
Anh là sĩ quan của quân đội Liên hiệp Pháp, còn con kia là một tên Việt Minh
nguy hiểm. Nếu không có quan hệ gì thì tôi ra lệnh cho anh: hãy bắn nó đi!
Nghe đến đấy Đội Ngự toát mồ hôi đầy mặt,
chân tay luống cuống, lảo đảo cả người. Tên Tây lai lôi phắt khẩu súng sáu của
hắn ra khỏi bao, lên đạn rồi nhét vào tay Ngự hét lên:
- Bắn! Anh hãy bắn nó đi!
Đội Ngự tay cầm súng cứ rũ xuống như con
gà rù, nặng nhọc thở, mặt tái mét. Tên Tây lai sấn đến lôi khẩu súng ngắn của
Ngự đeo bên sườn anh ra, chĩa vào thái dương anh mà nói:
- Mày hãy nghe đây. Tao đếm đến ba, mày
không nổ súng thì tao sẽ bắn mày, rồi sau tao sẽ giết nó...
Rồi hắn đếm 1...2... Thời gian trôi đi
nặng nề và im ắng như không còn có ai dám thở nữa.
Bỗng Mai đột ngột đứng thẳng dậy, hất
mạnh mái tóc về phía sau. Đôi mắt mở to nhìn thẳng vào Ngự, cô nói rành rọt:
- Anh Ngự, đằng nào thì em cũng bị chúng
giết, không thể thoát được. Anh hãy bắn em đi và hãy bắn trúng vào tim để em
được chết nhanh nhất. Đừng để chúng nó bắn em. Rồi cô chợt liếc nhìn xuống bụng
se sẽ thở dài.
Câu nói đó làm Ngự
bừng tỉnh. Anh đứng thẳng
lên đôi mắt sáng quắc, nảy lửa. Nhưng tên Tây lai đã chủ động trước anh. Anh liếc nhìn
khẩu súng kề sát thái dương mình mà tên Tây lai đang từ từ kéo cò, cái kim hoả
đã ngửa ra sau đến một phần ba hành trình của nó.
- Không kịp rồi,
không kịp nữa rồi! Anh tự nhủ.
- Hãy nổ súng đi anh
Ngự. Mai giục giã. Rồi cô
ngước lên cao nói thêm:
- Ở trên kia em sẽ tha thứ cho anh!
Ngự giơ súng lên không ngắm - Một tiếng
nổ - Người ta thấy Mai giật mình một cái rồi khụy xuống. Một tia máu từ ngực
trái của người nữ du kích vọt ra trúng vào giữa mặt tên Tây lai, loáng một cái
đã biến mặt nó thành đỏ lòm, loang lổ như bị vỡ thành mấy mảnh.
Thằng Tây bình tĩnh rút khăn tay ra lau
mặt, nhét trả khẩu súng vào bao của Ngự và cầm lấy khẩu súng vừa giết người của
nó từ tay Ngự, thản nhiên tra vào bao, miệng khen ngợi:
- Biêng, tơ-re biêng
(Tốt, rất tốt).
Không biết nó khen
tài bắn của Ngự hay nó tự khen màn bắn Việt Minh mà nó dàn dựng vừa lâm ly, vừa
khủng khiếp.
Rồi như một ân huệ
cuối cùng nó bảo Ngự:
- Ông Đội ở lại thu dọn trường bắn, tôi
về trước. Ô-voa (Tạm biệt).
Nó nhảy lên chiếc xe Jeep cùng mấy tên vệ
sĩ nổ máy rồi phóng như bay về quốc lộ.
Ngự cho trung đội lính Âu Phi ra về
trước, chỉ giữ lại mấy tên lính Bảo An.
Anh chậm chạp tiến đến quỳ xuống đỡ Mai,
cởi trói cho cô và để cô nghếch lên đùi mình đến khi cô chết hẳn. Anh từ từ
vuốt mắt cho cô, rồi bàn tay anh xoa nhẹ trên cái bụng đã lùm lùm của vợ. Đoạn
bế thốc cô dậy, đi về phía chiếc quan tài đã được chuẩn bị sẵn, nhẹ nhàng đặt
cô vào.
Lúc đứng dậy, ngực áo anh cũng đỏ lòm
những máu. Người ta không thấy anh khóc, nhưng mặt thì sắt lại như làm bằng đá.
Sau khi chôn cất Mai xong, anh chỉ còn lặng
lẽ như một cái bóng. Anh không nói gì và cũng không ai dám nói gì với anh. Anh
cứ sống vật vờ, câm lặng và đôi khi thấy anh ngước nhìn lên trời như đang tìm
kiếm ai ở trên đó.
Nghe đâu ba tháng sau thì có quyết định
thăng cho anh lên chức Quản (Ách chi đằng). Nhưng gọi anh lên văn phòng để nhận
quyết định thì anh không lên, còn khi đưa quyết định xuống đơn vị thì anh không
cầm. Vì vậy người ta vẫn gọi anh là Đội Ngự.
Ít lâu sau đó người ta tìm thấy thằng Mỳ
nằm chết gục trong một vũng bùn lẫn phân trâu sau ngòi, quắt queo bẩn thỉu như
xác một con chó.
Chả biết để xử tội tên Việt gian phản bội
mà Việt Minh giết nó, hay để trả thù cho vợ mà Đội Ngự giết nó. Chẳng có ai
quan tâm tìm hiểu làm gì.
Sau đình chiến 1954,
quân đội Liên hiệp Pháp và tay sai rút vào miền Nam, người ta thấy Đội Ngự vẫn
ở lại.
Chính quyền mới về.
Lúc đầu cũng có người định đưa Đội Ngự ra đấu tố, ghép vào tội này tội nọ.
Nhưng sau xét lại - Nếu Đội Ngự có tội đáng chết thì đem giết quách đi, còn
chưa đến tội có đem đi cải tạo thì đến bao giờ Ngự mới tỉnh táo, mới nhận thức
được những cái mà người ta muốn nói, muốn truyền đạt.
Vì thế người ta
không để ý đến Đội Ngự nữa. Nhưng Đội Ngự vẫn cứ sống, vẫn cứ phải ăn và vẫn cứ
tồn tại vật vờ như một nhân chứng sống của một kiếp người đau khổ.
Hà
Nội, 1991.
Liên hệ: DĐ: 0915140055
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét