Chuyện xảy ra đã khá lâu rồi, bây giờ tôi
cũng đã già. Nghĩ rằng nếu không ghi lại thì chẳng còn dịp nào nữa. Tuy chẳng
phải là chuyện hay ho gì, mà tôi cũng không có ý định viết nó ra.
Nhưng vì là chuyện có thật, lại gây ấn
tượng sâu, nên nếu bỏ qua thì thật có lỗi.
Không thuộc thể loại truyện ngắn, cũng
không phải là truyện dài. Nhưng vì nó rất lan man, sợ “tam sao thất bản”(1), vì
vậy tôi cứ “sao y bản chính”(2) cho chắc ăn.
Ai có thời gian rỗi rãi thì hãy đọc. Nếu
đã có gan đọc, thì xin hãy chịu khó đọc hết tập hồ sơ dày trên trăm năm mươi
trang này(3). Chỉ sợ làm cho người đọc bực mình rồi lại oán tôi là người lắm
chuyện.
Đó là câu chuyện kể về ông bác già của
tôi.
Cách đây hơn hai mươi năm, từ khi mới xấp
xỉ sáu mươi, chân còn vững, tai còn thính, ông đã làm đơn xin đòi lại mảnh đất
của cụ thân sinh, bị một tập đoàn xây dựng của nhà nước(4) chiếm giữ trái phép.
Câu chuyện dai nhách này không có tính
văn học, bởi vì nó rất vô văn hóa.
Nó cũng không có tính nhân văn, bởi vì nó
rất vô nhân đạo.
Nó cũng không thuận theo lẽ phải và đạo
lý, bởi nó rất dã man.
Câu chuyện này không mua vui được cho ai,
nó chỉ làm cho người ta buồn bã và đau đớn. Song nó cũng mang đậm tính hài hước
như một vở kịch của Mô-li-e.(5)
Các cụ xưa từng đã nói: “thuốc đắng giã
tật”! Biết đâu nó lại giã được tật thì sao?! Cứ nghĩ vậy tôi mới dám liều lĩnh
viết ra!
Không dám thêm bớt, không cho gia vị,
không có cả lời bình!
Sau khi xem xong, thế nào cũng có người
bực mình. Bởi phải bỏ bao nhiêu thời gian ra để đọc, cuối cùng vẫn chẳng hiểu
ra làm sao cả!
Cũng có người đã gặp, hỏi tôi:
- Tại sao lại như vậy: “Khi thấy của dân
hở ra thì cứ cướp phứa đi! Thế mà lúc phải “nhả miếng mồi” trả cho người bị hại
thì sao mà giở ra lắm luật lệ thế!”
Tôi chỉ dám nói đủ nghe:
- Chỉ có một luật thôi đấy
chứ. Nhưng đó là luật rừng! Luật của kẻ cướp!
***
Khi đọc các loại đơn thư khiếu nại này,
ta sẽ thấy đủ các cung bậc của đau thương, ai oán. Lúc thì lâm ly, thống thiết,
lúc lại nóng nảy, khật khùng.
Đã mất hơn hai mươi năm kiên trì khiếu
kiện để đòi lại thửa đất của cha mẹ mình bị cướp. Mãi tới năm ngoái, may sao có
một người quen làm trong ngành tư pháp thương tình mách bảo ông bác tôi:
- Cụ không chịu “mở hầu bao(6) ra” thì
không bao giờ có thể lấy được tiền đền bù đâu.
- Nhưng tôi lấy đâu ra để chi những khoản
phí khổng lồ ấy?
- Cụ phải gặp gỡ, phải bàn bạc, khi thỏa
thuận rồi, thì làm hợp đồng. Khi họ đòi được tài sản cho cụ, cụ phải chi cho họ
bao nhiêu phần trăm đấy.
- Việc này tôi biết gì, xin nhờ các cậu
giúp.
- Nếu cụ nhờ, cháu sẽ làm giúp.
Thế rồi sau một hồi các cuộc hội ý to
nhỏ, thì thụt như buôn bạc giả. Các bên đã đi đến thỏa thuận. Hợp đồng đã thảo
xong và các bên đã ký tá.
Sau đó một thời gian ngắn chỉ vài tháng
công việc đã đi đến hồi kết. Lúc bấy giờ ông bác tôi đã sắp bước sang tuổi tám
mươi.
Tôi nhớ lúc đó, khi nhận được thông báo
là mọi ban bệ của thành phố đã đồng ý trả lại tiền đền bù thửa đất của tổ phụ
ông, thì bất ngờ lại xảy ra câu chuyện “không thể nhịn cười được”:
Đó là ngày đi nhận tiền đền bù.
Con cháu thì mừng vui khôn tả, khuyên ông
là đã già yếu rồi ở nhà cho nó khỏe, cứ để chúng đi lĩnh tiền thay cho. Nhưng
ông không nghe, cứ nằng nặc đòi đến dự cuộc họp đông đủ các quan chức để còn cảm tạ và “còn
có dăm ba câu phải trái”.
Ông nói:
- Các cháu ạ, ở đời dù có gặp khó khăn
thế nào, cũng cố mà giữ lấy cái đạo lý.
Người già như trẻ nhỏ. Ông lão đã xấp xỉ
tám mươi, chân đã chậm, tai đã ngãng, nhưng trí còn kiên định lắm. Muốn làm gì
thì đố ai cản cho được. Cuối cùng mọi người cũng đành chiều theo ý ông lão cho
xong.
Khi ông được đại diện cho gia đình đến
một cơ quan công quyền hàng đầu tỉnh để lĩnh tiền đền bù thì bộ phận môi giới
đã nhăm nhăm trừ nghéo ba chục phần trăm như đã thỏa thuận trong hợp đồng.
Hội nghị được tổ chức long trọng ở trụ sở
quận chủ quản, có cả các cán bộ trên thành phố về dự. Sau phần chủ tọa tuyên
đọc đến gần hai chục văn bản, các loại quyết định, chỉ thị của Chính phủ, rồi
đến các công văn, các thông tư hướng dẫn của quận huyện được ban hành từ vài
chục năm trở lại đây.
Cuối cùng đến phần phát biểu lời cảm ơn
của gia chủ. Thì lúc ấy cũng đã vào buổi trưa rồi.
Ông bác già của tôi trịnh trọng đứng dậy,
hắng giọng vài ba lần rồi dõng dạc nói:
- Thưa các đồng chí lãnh đạo thành phố,
các đồng chí lãnh đạo quận, phường, thưa các vị có mặt trong buổi họp long
trọng này. Tôi thay mặt bố mẹ tôi đã chết, thay mặt con cháu, họ hàng tôi còn
sống, xin nghìn lần cảm ơn các vị đã thương tình đền bù mảnh đất cha mẹ tôi để
lại, mà vì nó hơn hai mươi năm nay tôi đã làm hơn một trăm lá đơn thư để đòi
lại.
Năm nay tôi đã gần tám mươi tuổi, cũng
gần đất xa trời rồi, sống trọn một kiếp người mới thấy nhiều chuyện đáng để
nhớ.
Hơn hai mươi năm qua tôi đã đến và gõ cửa
không thiếu một cơ quan chức năng nào. Dưới thì phường xã, trên đến tận Thanh
tra Chính phủ. Trung ương Đảng, Bộ Tài nguyên và Môi trường, Đài Truyền hình
trung ương, cả báo chí cũng vào cuộc. Tập hợp lại có đến trên một trăm lá đơn
thư kêu cầu khắp bốn phương, tám hướng. không cửa nào không gõ, không vị “la
hán”(7) nào là không vái lạy, khẩn cầu.
Hàng trăm tập hồ sơ do tôi tập hợp dày
trên năm trăm trang này, được in, phô-tô rồi đóng, xén cẩn thận như những quyển
từ điển nổi tiếng trên thế giới, được gửi tới các cơ quan chức năng trên.
Ở đâu, cơ quan nào cũng trả lời thật chí
tình, chí nghĩa. Họ cũng biết và nói về gia đình tôi là một gia đình chính
sách. Cả nhà đều có công đóng góp cho cách mạng. Bố tôi đã tham gia cách mạng
từ những năm ba mươi. Anh cả tôi là bộ đội chống Pháp hy sinh trên Điện Biên
Phủ, đươc Tổ Quốc ghi công là liệt sỹ. Cả nhà và bản thân tôi đều được tặng
thưởng nhiều huân, huy chương cao quý của nhà nước.
Nhưng chẳng hiểu vì sao, đối với một gia
đình có công với cách mạng như gia đình tôi, cuộc theo đuổi khiếu nại để đòi
lại đất của mình bị lấn chiếm trái phép, lại kéo dài lê thê như một cuộc chạy
Ma-Ra-Tông(8) không có đích?
Cơ quan A nói là phải đợi ý kiến của cơ
quan B, cơ qua B nói phải có ý kiến của cơ quan C. Sự việc diễn ra như cuộc tập
dượt của các đội bóng hàng đầu thế giới. Bóng cứ được rê qua, dắt lại rất đẹp
mắt, không có chút sai sót nào nhưng nó cũng không hề muốn dứt điểm. Vì người
ta chẳng tìm thấy bóng dáng “cầu môn”(9) ở cái “lỗ mô”. Con đường dài vô tận
ấy, đi loanh quanh một hồi lại quay về điểm xuất phát.
Cũng may mới rồi tôi được người ta thương
tình mách mối tìm được một đường dây làm việc cực kỳ hiệu quả. Mới có vài
tháng, mà họ đã thu được kết quả hơn hẳn hai mươi năm tôi miệt mài theo đuổi.
Ngày hôm nay được đến đây để dự cuộc họp quan trọng này và có hy vọng được nhận
tiền đền bù. Lần nữa tôi xin chân thành cám ơn các ban, ngành, các cơ quan chức
năng của quận, của phường và của thành phố. Nhất là các “đồng chí chân gỗ (10)”
trong đường dây “thần tình” đã giúp đỡ rất nhiệt tình để có kết quả rực rỡ như
ngày hôm nay mà tôi chỉ phải mất có ba mươi phần trăm tổng số tiền đền bù mảnh
đất mà bố mẹ tôi để lại...
Người ta vội vàng cắt ngang lời phát biểu
của ông lão, tắt mi-crô, rút phích cắm điện. Vừa dỗ dành, vừa lôi kỳ được ông
bác già của tôi ra ngoài. Cũng may không có sự cố gì đáng tiếc xảy ra thêm nữa.
Đúng lúc ấy hội nghị cũng tuyên bố bế mạc để còn dùng bữa trưa!
Sự việc bất thường này làm tôi hoảng hốt
thực sự.
Ra đến ngoài, khi đã bình tĩnh lại, tôi
mới dám cằn nhằn ông bác:
- Sao trong một hội nghị quan trọng như
thế, bác lại phát biểu linh tinh như thế.
- Bác chỉ nói sự thật thôi chứ có bịa đặt
câu nào đâu mà cháu lại bảo là bác nói linh tinh?
- Không phải sự thật nào cũng nói ra
được!
- Sự thật mà không được nói ra thì chỉ
nên nói toàn chuyện giả dối, bịa đặt cho nhau nghe thôi sao?
- Có những sự thật còn thối hơn cả cứt,
nên người ta đành bọc “cục thối” ấy lại bằng một cái vỏ hào nhoáng rồi vẩy thêm
vào đó một ít nước thơm.
Cháu hỏi bác có ai muốn “sờ mó” vào cái
“sự thật thối hoắc” kia không, hay chỉ muốn “chiêm ngưỡng và ca ngợi” cái mã
bên ngoài đẹp đẽ và thơm tho của nó?!
Hà Nội, 2014.
(1)
Tam sao thất bản: Sao đi chép lại nhiều lân, không còn đúng với bản chính nữa.
(2) Sao y bản chính: Sao y như bản gốc, có thị
thực
(3)
Phụ lục các đơn từ khiếu nại đòi trả lại thửa đất D15-153 mang bằng khoán 462 bị chiếm giữ
trái phép trong khu vực nhà máy Xi măng Hải Phòng.
(4) Nhà máy Xi măng Hải Phòng, nay là Công ty Cổ phần Xi măng Hải Phòng
(5) Mô-li-e: Molière: tên thật là Jean Baptiste
Poquelin (1622-1673) nhà viết kịch vĩ đại người Pháp.
(6) Hầu bao: Túi nhỏ để đựng tiền
(7) La Hán: Các vị thần, thánh được thờ phụng trong dân gian
(8) Ma-ra-tông: Môn điền kinh thi chay đường dài (marathon: tiếng Anh)
(9) Cầu môn: Khung thành của các môn đấu bóng
(10) Chân gỗ: Người chuyên làm nghề môi giới để kiếm ăn
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét