Tôi được mấy ông bạn trước làm việc ở
Viện Khảo cổ hay Viện Sử học gì đó rủ đi xem lễ hội ở một làng ven thành phố.
Đã già, lại rỗi rãi, đi cho đỡ buồn, ở
nhà quanh ra, quẩn vào, chẳng có việc gì làm, nó cứ tù túng thế nào ấy, có khi
còn bày ra mấy trò lẩm cẩm, bị bà vợ già khó tính cằn nhằn đã là làm rếch nhà
lại đầu têu cho thằng cháu dở, nó nghịch phá thêm không ai mà chịu được!
Chuyến đi cũng chẳng phải chuẩn bị gì,
không có nhiều tiền dắt túi, anh em tôi mua vài ổ bánh mỳ, dăm phong kẹo lạc,
chai nước lọc, thế là ổn rồi.
Đi chơi có ngày trời thì có bỏ bữa cũng
không chết ngay được.
Chúng tôi ung dung “ngự trên” mấy con
ngựa sắt già nua, cọt kẹt lên đường.
Hơn tám giờ sáng xuất phát thì chín giờ
đã đến đầu làng.
Tận từ xa chúng tôi đã nghe thấy những âm
thanh phát ra mấy bộ loa đại như thanh la, não bạt, trống cái, trống con và cả
tiếng reo hò ầm ĩ nữa. Cái không khí háo hức của lễ hội cộng thêm cái tiết cuối
xuân mới chớm hè làm cho ngay cả mấy lão già chúng tôi cũng phấn khích hẳn lên.
Múa lân, múa rồng thì ở đâu tôi cũng thấy
rồi. Không chỉ có mấy cô mới lớn, các cậu choai choai, mà ngay ông già, bà cả
má đã nhăn nheo cũng áo quần xanh đỏ, phấn son rực rỡ, cầm quạt, cầm cờ, lượn
lờ như cá bơi, như bướm lượn trông cứ hoa cả mắt. Rồi kiệu to, kiệu nhỏ cũng
lượn đi, lượn lại như một dòng chảy không ngừng.
Lần mò, nghiêng ngó mãi từ ngoài rìa
chúng tôi dần dần cũng chen vào đến giữa đám. Một ban thờ có đủ cả hương án,
bài vị, nhưng cái lạ là lại có một sàn gỗ cao hơn cả ban thờ dựng ngay đằng trước.
Khi các lễ vật được bày biện lên đủ cả
như đầu trâu, thủ lợn, xôi đỏ, xôi trắng, hoa quả cũng rực rỡ đủ màu; khói
hương bay ngào ngạt, đèn nến thắp sáng choang.
Bỗng mọi âm thanh ngừng bặt. Không gian
như bỗng như chùng hẳn xuống. Một ông trông còn tráng kiện lắm chỉ khoảng năm
nhăm, năm sáu tuổi, ăn mặc cầu kỳ, quần xanh, áo đỏ, chân xỏ đôi hia, mũ cánh
chuồn đen, mặt mày đỏ rực, râu dán tứ tung, trịnh trọng bước ra, hai tay vung
vẩy như kiểu phường tuồng, vái vái tứ phương, rồi hắng giọng hét rõ to lên một
hồi mà những người nghe bên dưới có chú ý mấy cũng không sao nghe được lời ông
ta nói.
Tôi quay sang hỏi một ông bạn đi cùng,
thì được ông giải thích:
- Ông ấy đang kể xuất xứ và truyền thống
lễ hội này của làng mà ngày xưa các cụ tổ ở địa phương đã có công tạo dựng!
- Thế nó xuất xứ như thế nào!?
- Đấy là tôi đoán thế! Chứ tôi còn nghễnh
ngãng hơn cả bác, nên có nghe thấy rõ cái gì đâu!
Nhưng bác cứ yên tâm, trước khi đi, tôi
đã đọc và tìm hiểu kỹ về cái lễ hội làng này rồi: đại khái là vào năm Quý Mùi
cách đây khoảng hai trăm năm mươi năm, ông thành hoàng làng vốn xuất thân là
một người nghèo khổ, sống lang thang không nơi nương tựa. Một lần thấy làng mở
hội, bèn tìm đến để kiếm ít cái ăn. Nhưng
vì không có quần áo nên anh ta đến rất sớm bới đất nằm dưới đó, chỉ để
hở có đôi mắt lên thôi.
Lễ hội được khai trương suốt từ sáng sớm
tinh mơ, nam thanh, nữ tú đi lại nườm nượp. Mà ông cũng biết đấy các bà, các cô
xưa chỉ vận có cái mấn(1), chứ ở bên trong làm gì có đồ lót đắt tiền của Thái
Lan hay Hàn Quốc như bây giờ đâu.
Sau lễ hội người ta tìm thấy anh ta đã bị
không biết bao nhiêu người giẵm lên bẹp dí, nhưng đôi mắt thì vẫn mở trừng
trừng, không làm thế nào khép nó lại được. Các vị cao niên trong làng đã làm đủ
cách như thắp hương khấn cầu cả ngày trời mà cũng chẳng ăn thua gì, cuối cùng
tìm mãi mới được một ông thày mo cao tay tận Hà Giang hay Cao Bằng về cúng suốt
ba ngày đêm, sau khi thượng đồng thày cúng phán rằng chỉ còn một cách là phải
cho dăm thanh nữ còn trinh tiết, nửa đêm không mặc quần áo ra vuốt mắt cho anh
ta, thì may ra anh ta mới chịu nhắm mắt lại!?
- Nhưng nửa đêm, tối đen sì sì, nhìn thấy
cái gì với cái gì chứ? Tôi thắc mắc hỏi.
- Đã là mắt thần thì còn quản gì chuyện
đêm tối! Tối nữa cũng vẫn thấy! Ông bạn tôi khẳng định.
Anh này chết vào giờ thiêng lại vào tháng
Ngọ, năm Quý Mùi là năm cầm tinh con dê đực. Hôm sau chỗ anh ta nằm đùn lên một
tổ mối to như cái nong lớn.
Làng bèn cho xây một cái miếu rất “hoành
tráng” ngay đó để thờ. Cầu gì được nấy, linh thiêng cực kỳ. Người trong làng tôn làm
thành hoàng. Vào ngày kỵ hằng năm đều tổ chức cúng giỗ rất chỉn chu, linh đình
không bao giờ dám sơ suất. Bây giờ con cháu làm ăn ngày càng khấm khá, nên đã
sửa miếu thành đình rồi tổ chức thành hội làng và đang chuẩn bị xin nhà nước
công nhận là “di tích lịch sử được xếp hạng cấp quốc gia” nữa.
Bác thấy đấy phải làm một “sân khấu” cao
hơn ban thờ đằng trước đình để chốc nữa các thanh nữ không mặc đồ lót lên nhảy
múa cúng tổ “trình cho thần” xem!
- Nhưng nếu cứ mặc thì có làm sao không?
- Chết sặc gạch ngay?!
- Thế đã thử chưa?
- Thử rồi! Rất linh nghiệm! Ông bạn tôi
“phồng mang, trợn mắt” lên nói để chứng tỏ điều mình nói là “đã được đảm bảo
chắc chắn”! Ông kể thêm:
Cách đây bốn năm có một cô được chọn múa
dâng thần, đang múa bỗng nhiên lăn đùng ra ngất xỉu đi tưởng chết. Mang xuống
để một nơi thoáng mát mãi sau mới hồi lại ú ớ chỉ tay vào “đấy” “mặt xanh như
đít nhái”. Khi “ban tổ chức” “tụt mấn” ra mới biết là cô này “dám” mặc “đồ lót”!
Chuyện này đã được đưa lên mạng “Internet” còn có cả hình chụp minh họa rất rõ
ràng nữa!
Làng bèn ra lệnh phạt vạ gia đình “kẻ
phạm giới quy” rất nặng, khiến gia đình cô gái nọ phải bán nhà đi để nộp vạ.
Mãi năm, sáu năm sau, khi chuyện này đã lắng xuống, cô gái nọ vẫn ế sưng, không
lấy được chồng!
Không cô nào dám mặc đồ lót đâu! Vả lại
bây giờ thì việc được “khoe hàng” trước mọi người lại là “mốt” yêu thích nhất
của các cô gái thời hiện đại!
- Thật thế à?!
- Bác không được “thực tế” lắm, nên không
biết chứ giờ đây ở các “quán nhậu” loại sang trên phố người ta đã biểu diễn
“múa cột” từ hàng chục năm rồi à?!
- Thế “múa cột” là gì?
- Ấy đấy, biết ngay mà, tôi đoán có sai
đâu! Ông bạn tôi sung sướng kêu lên!
- Múa cột là các cô thiếu nữ khỏa thân
uốn éo quanh một cái cột dựng trên một cái bục cao ngang đầu gối để các “đại
gia” ngồi dưới vừa uống rượu, vừa thưởng thức và thỏa sức tưởng tượng là mình
đang được uống rượu với các món đồ “nhắm” tươi sống, còn đang “giãy đành đạch”!
- Trời đất ơi lại cả thế nữa à!
- Bác còn chưa biết chứ ngay ở Mỹ, ở Châu
Âu, nơi xuất xứ của môn “nghệ thuật” này các cô gái dẫu là làm nghề múa khỏa
thân nhưng vấn còn có một cái quần lót dù rất nhỏ để che đi cái “bộ phận tối ư
hạ đẳng” và bởi nó cũng không lấy gì làm “thơm tho” cho lắm!
Nhưng ở nước ta thì đã “tiến xa” hơn
nhiều! Ngay cả cái “bộ phận thấp nhất” ấy cũng được đem bày ra khoe trước bàn
dân thiên hạ! Giới thanh niên ngày nay rất hãnh diện gọi làm như vậy là “trưng hàng”!
- Bây giờ ta trở về cái lễ hội làng này?
Thế cái tính truyền thống của lễ hội này là gì?! Chẳng lẽ lại là cái truyền
thống “nhòm …” à?
- Bác chẳng thấy bây giờ người ta tìm đủ
cách để mở ra các loại hội hè, đình đám hòng lôi kéo khách du lịch đến để kiếm
ăn. Không kể tốt, xấu, đúng, sai. Có làng khi xưa nghèo khổ chỉ làm nghề gắp
phân cũng cho làm “bộ gắp” sơn son, thếp vàng, đặt lên ban thờ để cúng. Lễ vật
cũng rất đặc biệt: lấy chuối giã nát ra với cốm tuồn qua ống đu đủ cố làm giống
các bãi phân đặt trên ban thờ để vái lạy!
Bác còn chưa thấy đấy, mấy cái bát hương
cũ, cái bình vôi mẻ vất cạnh gốc cây ven đường mà có người để ý đến, là lập tức
được tôn vinh thờ cúng, hương khói kính thành. Ngoài cái sự mê tín quàng xiên
do dân trí mình thấp, bọn buôn thần bán thánh cũng lợi dụng để kinh doanh kiếm
lời nữa.
- Lại cả kinh doanh nữa?!
- Đã bảo bất kỳ cái gì hơi khác lạ, có
người ngó nghiêng là lập tức được tính toán để đồn thổi lên mà kiếm ăn! Dân
mình thế, thế cũng là phải thôi!
- Bác bảo sao? Sao lại là tại dân mình!
- Ngu thì mới dễ bị người ta lừa chứ! Ai
nói sao, bổ nhào làm vậy! Đấy như lễ hội truyền thống của làng này, hằng năm
bày ra cũng tốn kém phết, hàng mấy trăm triệu chứ chẳng chơi. Để đời sau truyền
lại cho nhau “cái truyền thống” gì?? Chả nhẽ là truyền cho con cháu cái cách
“nhòm” vào háng đàn bà?!
Một giáo sư sử học có uy tín (2) đã nói:
- “Nước ta chẳng qua chỉ là một cái làng
lớn”!
Ông ấy nói rất đúng! Dân trong cái “làng”
ấy mang nặng tư tưởng và cả nền văn hóa làng xã. Luôn mang cái cung cách của
mấy nông dân ít học, thích được vênh váo giữa đám đông, họ luôn cho rằng “một
miếng giữa làng, hơn một sàng xó bếp”!
Vì thế bất cứ cái gì dù to nhỏ đều muốn
khoe mẽ, đều muốn được vinh danh, muốn người khác phải nhìn vào mà “trầm trồ
thán phục”!
Đã có bao địa phương đã phải nhịn ăn, nhịn
mặc dành dụm từng đồng tiền lẻ để chạy cho bằng được cái bằng chứng nhận của
U-net-cô(3) về cái đình làng cũ kĩ của mình, thậm
chí là mấy cái cột đá sứt sẹo vứt giữa cánh đồng là di sản này, di sản nọ.
- Thế khi nó chưa có cái giấy chứng nhận
của U-net-cô thì những cái đó là cái gì? Chả lẽ nó chỉ là những “thứ rác rưởi
bỏ đi” ư?!
- Này bác ạ, có khi rồi đến bố mẹ mình
cũng phải chạy cho được cái giấy chứng nhận của U-net-cô là “di sản hữu vật
thể” của nhân loại chứ chẳng chơi!
- Chứng nhận thế nào? Chẳng lẽ lại xin
U-net-cô chứng nhận là “các di sản” này đã “tằng tịu với nhau” mà sinh ra chúng
mình ư?
- Thế chẳng còn hơn là không ai biết,
không ai để ý đến!
Hà Nội, 2013.
(1) Mấn: váy
(2) Nhà
sử học Trần Quốc Vượng
(3) U-net-cô: Unesco: (United Nationals
Educational,Scientific & Cultural Organization: Tổ chức Giáo dục, Khoa học
và Văn hóa của Liên hiệp quốc)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét