tháng 9 18, 2014

Cái chết của một ông lão

Ông lão đã tắt thở. Ai cũng biết bệnh viện đã trả về rồi thì còn làm sao mà sống được. Thực ra ông cũng chẳng có bệnh gì trầm trọng cả, nhưng tuổi đã cao lại sống một mình, không người chăm sóc, ăn thì bữa đực, bữa cái. Bản thân ông cũng chẳng chịu giữ gìn sức khỏe, thế thì sao mà “thọ mãi” cho được.
Sống độc thân, lại nghèo nên ngoài vài ông bạn thân thỉnh thoảng lui tới, không có ai quanh quẩn bên mình, nên thực ra cũng chẳng biết ông chết tự lúc nào. Chúng tôi được cậu bé hằng ngày mang cơm hộp đến cho ông báo mới biết.
Đã không có nhiều tiền, lại không cởi mở, ngại giao tiếp, nên ông thành “cô độc” trên cõi đời này cũng là điều tất yếu!
Lúc sinh thời ông có nhiều đam mê, nhưng những đam mê ấy không giúp ông kiếm ra tiền, nó chỉ thỏa mãn sở thích của ông và một số bạn bè, nên đã từ lâu họ hàng, người thân không ai quan tâm, nom dòm đến nữa.
Ban tang lễ được cử ra gồm vài người trong phố xóm. Phường sở tại đồng ý chi một khoản phí tối thiểu để an táng cho những người già cô độc.
Là người hàng xóm ngay sát tường nhà ông, hay qua lại mua giúp cái này, cái nọ, nên tôi đành đứng ra tổ chức tang lễ cho ông vậy.
Khi khâm liệm, người ta thấy hình như ông lão có nắm một vật gì đó trong tay. Cậy ra xem thì thấy đó chỉ là một sợi dây mỏng mảnh đeo một cây thánh giá nhỏ bằng bạc đã cũ và một mẩu giấy ghi tên, địa chỉ của một người mãi tận Phú Thọ.
Bà hàng xóm tốt bụng đã gửi một tin nhắn qua bưu điện cho người có địa chỉ trên mẩu giấy mà người quá cố đã nắm trong tay.
Trưa hôm sau, người ta thấy một chiếc xe ô-tô con len vào đến tận trong ngõ. Một thiếu phụ trẻ tay dắt theo hai đứa bé tất tả bước xuống đúng lúc mọi người đang chuẩn bị nhập quan.
Không biết tự lúc nào người thiếu phụ đã kịp chít mấy cái khăn tang lên đầu mấy mẹ con rồi.
Cả ba mẹ con sụp lạy trước linh cữu của ông lão, rồi cứ phủ phục ở đó nếu như không có một người đàn ông từ trên xe bước xuống dìu họ đứng dậy.
Người ta thấy người thiếu phụ không khóc, nhưng nước mắt thì lã chã rơi như mưa, ướt đẫm cả vạt áo.
Đến giờ đã định; mọi người tề tựu đông đủ cả. Ai cũng lặng đi trong giờ phút trang nghiêm ấy. Nắp áo quan đã được đậy lại và khi tiếng búa đóng cá vang lên, thì tiếng khóc ai oán mới vỡ òa ra như con đê bị nước phá tan trong một cơn lũ lớn:
- Bố ơi, tại sao bố lại giấu không cho con biết gì về bố?! Con những tưởng mọi vết thương đều kín miệng theo năm tháng. Nhưng vì sao với bố vết thương ấy lại không bao giờ liền được!
Con thật có tội với bố! Giờ đây con biết làm thế nào để chuộc lại lỗi lầm này, bố ơi!
Những người có mặt ở đấy đều rơi nước mắt vì cảm động. Họ xì xào:
- Thì ra ông lão cũng có con, có cháu!? Tại sao bao nhiêu năm qua không thấy ông ta nói gì cả; mà cũng chẳng thấy ai đến thăm nom ông ấy?!
Một tang lễ xoàng xĩnh mà Ban tang lễ của phường đứng ra tổ chức được tiến hành như thông lệ. Sau xe tang ngoài mấy ông bạn già, rồi đến gia đình người con gái và rất đông bà con lối xóm. Người chồng chị ta cũng xin khăn mũ và chống gậy đi sau linh cữu như một người con trai vậy. Người ta thương cảm đến tiễn ông là chính; nhưng nhiều người cũng đến vì tò mò.
 Người ta đưa ông lão xuống “Đài Hóa thân hoàn vũ”; trưa sau một bình đựng tro được trao trả cho người đại diện.
Sau tang lễ chúng tôi và cả các vị đại diện trong ngõ xóm mới ngồi lại để xem xét từng việc.
Đầu tiên là việc chị phụ nữ kia có phải là con ông lão không?
Sau khi xem tờ giấy khai sinh của chị ta mà tên cha là tên ông lão. 
Đặc biệt là trên cái ban thờ nhỏ đóng ở mép tường sát mái có để ảnh một người đàn bà trẻ đẹp như Đức mẹ đồng trinh, rất giống với chị ta.
Sau nữa là nếu không phải là ruột thịt, không xót xa thì hơi đâu lại vơ lấy cái của nợ này vào người. Một ông già cô độc gần như xơ xác nhất cái vùng này, ngoài ngôi nhà nhỏ, trống trơn, chẳng có cái gì đáng giá; thì khi chết đi liệu để lại được cái gì mà phải nhận vội lấy. Chị ta là người ở tận mãi đâu đâu, lại giàu có; chứ có phải loại vơ bèo, gạt tép, vớ được là nhận bừa hòng kiếm chác chút đỉnh như người ta thường vẫn làm đâu.
Thế là cả lý, cả tình, chúng tôi đều thấy chị ta đúng là con ông lão thật.
Nguyên do vì sao cha con họ không đến được với nhau thì nào ai mà biết được. Có phải ông lão vợ này, con nọ, sợ ghen tuông, mà phải giấu giếm. Hoặc nếu như ông giàu nứt đố, đổ vách thì còn có người nghĩ là về nhận vội còn hòng tranh giành của cải. Đằng này đã không người thân thích, của cải lại trống trơn! Cái căn nhà nhỏ tẹo, rỗng tuếch trong ngõ hẻm này thì đáng giá bao nhiêu chứ!
Thiếu phụ nọ cũng còn mải khóc lóc đau đớn, lại rất kiệm lời, nên chúng tôi cũng chẳng biết thêm lai lịch ông được mấy tý.
Sau bốn chín ngày bố mất, chị ta lại về làm thủ tục nhượng lại ngôi nhà nhỏ của ông cho phường sử dụng. Mọi người mới thật hết nghi ngờ là chị ta về nhận bố là để được “thừa hưởng gia tài”!
Khi ra về chị ta xin lại ảnh mẹ trên ban thờ, cây thánh giá nhỏ, cuốn nhật ký cũ kỹ của ông, rồi đem lọ tro hài cốt của bố rắc xuống lòng con sông nhỏ gần nhà.
Ai hỏi gì; chị ta cũng chỉ trả lời chủng chẳng, chẳng rõ ra ngô, ra khoai gì cả.
Cuốn nhật ký ông để lại, dài và thật buồn. Thực ra đó chỉ là những lời sám hối.
Cả đời ông đã ăn năn cho cái lỗi lầm mà ông phạm phải thời trai trẻ. Cái lỗi lầm ấy đã làm tan nát cuộc đời một người mà ông đã từng yêu quý. Sự ăn năn ấy đã đeo đẳng và gặm nhấm ông đến tận cuối đời. 
***
Câu chuyện về ông lão cô độc lại buông thêm một tấm màn bao phủ đầy những bí ẩn như cuộc đời ông vậy! Bạn bè ông, họ cũng nói ông rất ít tâm sự, nên không ai biết thêm gì nhiều.  
Trong cuộc đời không mấy ai ngờ rằng tình yêu đôi khi cũng để lại một vết thương hằn sâu đến thế!

Hà Nội, 2013.  

Liên hệ:      DĐ: 0915140055

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét