Không còn sớm nữa, chiều chạng vạng đã đổ
màu tím sẫm.
Tôi mệt mỏi bước trên con đường mà ba
mươi năm trước tôi đã từng đi qua. Cậu thanh niên dẫn đường nghe chừng cũng sốt
ruột lắm, cứ thỉnh thoảng lại quay đầu về phía sau se sẽ thở dài.
Tôi hỏi cho có chuyện:
- Còn xa không anh bạn?! Hôm nay anh mệt
mỏi vì lão già này lắm phải không?
- Cỡ con dao quăng nữa là đến. Tại ông đi
chậm quá! Mà ông cũng đã già rồi còn gì! Không sao đâu. Bà Hòa là bà bá cháu,
nhà cháu cũng ở gần đấy, chưa đến nửa thôi dao.
Hai người vui trò chuyện đã quên đi quãng
đường dài và chỉ loáng sau đó chúng tôi đã đứng trước cổng nhà Hòa.
Cái cổng tre nhỏ bé, xiêu vẹo, hẳn đã lâu
không có bàn tay người tu sửa. Một khoảng sân hẹp, liền sau đó là ngôi nhà lá
nhỏ bé, cũ kỹ ẩn dưới tán lá của mấy cây bưởi già nua.
Cảnh sắc cũ hiện về như trong một chuyện
cổ dần hồi sinh lại. Những mảng màu đậm nhạt trong bức tranh của quá khứ như
đang được chắp nối dần dần lại với nhau.
Cái liếp nhỏ khép hờ. Ngay ở gian giữa
một cái ban thờ nhỏ bụi bậm, do không có ai lau chùi hương khói, trông hoang
vắng đến não lòng.
Trong khoảng sáng tối đan xen của quầng
ánh sáng đục nhờ nhờ như sữa loãng dần hiện lên một cái giường nhỏ cũ kĩ, được
buông phủ một cái màn màu nước dưa, làm cho không gian trở lên mờ mờ, ảo ảo.
Anh chàng dẫn đường thanh minh với tôi:
- Bá cháu mất đã lâu. Chị Thanh thì bận
làm ăn trên thị xã. Năm thì, mười họa mới về; lúc ấy chúng cháu mới quét dọn,
hương đèn. Cháu cũng còn phải đi làm để kiếm sống; không qua lại thường xuyên
được.
- Bác hiểu. Tôi nghẹn ngào trả lời.
Sau khi quét dọn sơ sơ và thắp mấy nén
hương trên ban thờ; tôi nói với Lâm, anh chàng dẫn đường:
- Hôm nay đã muộn rồi; để ngày mai ta
tính tiếp.
- Vâng, thế cũng được. Bây giờ cháu đưa
bác ra nhà trọ gần đây để ăn uống và nghỉ ngơi cho lại sức.
***
Đêm đó tôi chỉ ngủ chập chờn được dăm
tiếng. Ba, bốn giờ sáng đã trở dậy rồi. Những kỉ niệm cũ như một con lạch nhỏ
len lỏi chảy về, đậm nét và rõ ràng dần, làm tôi cứ ngỡ như những sự việc mới
xẩy ra vài hôm trước.
Hồi ấy vào khoảng cuối năm 1966, tôi là
kĩ sư cầu đường mới ra trường được cơ quan giao nhiệm vụ về Đoan Hùng - Phú Thọ
làm cầu phao luồng qua bến phà thị xã.
Đi công tác cùng với tôi có anh Tuyên
chuyên gia về Thủy văn của Viện hơn tôi ba tuổi. Anh đã có gia đình và có tới
mười năm công tác.
Lúc cán bộ địa phương đưa hai anh em tôi
đến nhà ông bà Hòa (ở quê người ta gọi tên con cả thay cho tên bố mẹ) xin ở nhờ
thì bị từ chối rất gắt gao, với lí do là nhà nhỏ, neo người lại đang nuôi tằm
phải kiêng kị phiền phức; nên không thể ở được!
Chúng tôi thấy nản quá, bàn với mấy anh ở
Ủy ban là nên tìm nhà khác; chứ vừa đến đã bị từ chối thế này thì thật là bất
tiện.
Mấy anh đã kéo chúng tôi ra sân nói rằng
đây là căn nhà tốt nhất. Vừa ở, vừa làm việc với cán bộ địa phương được. Nó ít người, sạch sẽ ngăn nắp, rất thích hợp cho việc tổ chức và chỉ đạo thi công cầu; nó
lại vừa gần bến phà nơi chúng tôi chọn làm vị trí làm cầu khi thiết kế.
Nói rồi, mấy anh trở vào nhà nói với chủ
nhà mà gần như bắt ép; là nếu không cho “cán bộ trung ương” ở nhờ sẽ được “mời
ra ủy ban để giải quyết”!
Lúc bấy giờ bất kì ai ở Hà Nội về công
tác đều được gọi là “cán bộ trung ương”! Mà Hà Nội chẳng đã trở thành trung tâm
của cả nước đó sao?
Cái thời buổi nó vậy; biết làm thế nào
được!
Dùng dằng một lúc cuối cùng chúng tôi
cũng được ở lại, nhưng chỉ được ngủ ngoài hè; với lí do nhà chỉ có một gian hai
trái. Ngay giữa kê một cái hòm gian lớn chứa thóc và quần áo, trên là ban thờ;
đằng trước có kê một cái phản ông bà chủ nhà nằm rồi. Một trái nuôi tằm, trái
còn lại là buồng riêng của Hòa cô con gái duy nhất.
Chúng tôi đang thời kì sung sức lại đã
từng nếm trải công trường, lang thang đây đó rồi, nên chẳng sá gì cái chuyện
vặt ấy.
Anh em tôi rút ít rơm trên đống ở góc
vườn vào rải ổ, rồi đánh một giấc tới sáng bạch. Khi mấy anh cán bộ của phòng
Giao thông địa phương tới đánh thức dậy để làm việc, thì mới biết hai anh em
tôi nằm ngủ ở một phía đầu hè, còn phía kia là cái ổ chó đẻ của gia đình.
Các anh ấy đã làm um tí
tùm lên, quát nạt ông bà chủ nhà là làm sao lại dám đối xử với các “cán bộ
trung ương” về công tác như thế?!
Sau đó ít bữa khi ông bà chủ nhà chứng
kiến cái cảnh chúng tôi bàn bạc, giao nhiệm vụ cho cán bộ địa phương. Đến bữa
lại thấy có người bưng cơm đến tận nhà thì hai ông bà cũng đã thấy nể nể hơn.
Ông bà sắp xếp lại, cho anh em tôi vào
ngủ trên cái phản giữa nhà. Ông bà vào nằm trong trái nuôi tằm; tằm đành di ra
gian giữa vì ở đó rộng hơn.
Có cái lệ là khoảng khuya khuya, Hòa hái
lứa dâu cuối cho tằm, vì tằm đang ăn rỗi. Nhưng từ khi chúng tôi đến ở mà nhất
là lại ngủ cùng gian với tằm thì cái lệ này bị sao lãng, hôm nhớ, hôm quên; lí
do chỉ là do Hòa ngại giáp mặt với chúng tôi.
Có lắm hôm trở dậy sớm, thấy tằm đói bò
đầy nhà kiếm lá. Anh Tuyên là người rất chu đáo, lại là người có kinh nghiệm
sống nên anh đã cùng tôi nhặt tằm cho vào nong rồi đi hái dâu ngoài vườn rải
lên trốc.
Ông bà chủ nhà sáng nào cũng dậy sớm uống
trà, vì đất này ngoài giống bưởi Đoan Hùng thơm ngon có tiếng, ăn không biết
chán, lại cũng là đất trồng chè rất ngon nữa. Sáng nào anh Tuyên cũng dậy sớm,
rửa bộ ấm chén uống trà rất sạch sẽ; thế rồi dần dần chúng tôi cũng được thưởng
thức những chén trà trong xanh, sóng sánh của ông bà mời.
Mãi sau chúng tôi mới biết lí do là tại
sao hôm mới đến xin ở trọ lại bị từ chối gắt gao như vậy.
Thì ra cách đây dăm năm khi làm bến phà,
cũng đã có mấy anh công trường đến xin trọ ở đây rồi. Nhưng do mấy cậu công
nhân bỗ bã, đã cợt nhả quá trớn với Hòa.
Từ đấy cái thành kiến về “bọn công
trường”, là không thể chấp nhận được!
***
Sau đó ít lâu, thái độ của ông bà chủ nhà
từ ghét bỏ chuyển thành quí hóa lúc nào không rõ; ông bà nhất quyết bắt chúng
tôi phải ăn cơm cùng với gia đình. Giải thích thế nào cũng không được; cứ đến
bữa Hòa lại phải ra bếp tập thể lĩnh hai xuất cơm của chúng tôi về ăn ở nhà
cùng gia đình.
Mỗi khi có đoàn chiếu phim về xã phục vụ,
ông bà còn cho phép anh em tôi rủ Hòa đi xem phim bãi; vừa để có anh, có em,
vừa để Hòa không bị ai chòng ghẹo.
Hòa không chỉ là cô con gái độc nhất của
ông bà; mà còn bởi vì Hòa là cô gái đẹp nhất Xứ Đạo này. Đôi mắt thánh thiện
trên khuôn mặt Đức Bà làm cho người ta phải sửng sốt khi mới gặp. Ai cũng phải
thầm nghĩ rằng làm sao trên đời này lại có người con gái đẹp đến thế, hoàn mỹ
đến thế!
Giai đoạn sau đó ít lâu Mỹ ném bom ác
liệt hơn. Cầu thì chưa xong mà bến phà đã bị bom ném xuống. Để bảo vệ cho ban
chỉ huy; địa phương quyết định đưa chúng tôi rời vào Chí Đám cách nơi ở trọ cũ
dăm cây số.
Hôm chúng tôi thu dọn để chuyển đi, không
chỉ có Hòa khóc mà ông bà chủ nhà cũng cứ băn khoăn mãi không biết có phải vì
trước đây đã từ chối cho chúng tôi ở hay không!?
Rồi một hôm Hòa vào thăm anh em tôi trong
Chí Đám. Đúng hôm ấy anh Tuyên về Hà Nội để xin tài liệu và lĩnh thêm tem phiếu
lương thực ở cơ quan.
Khi chỉ còn lại có hai người với nhau,
Hòa đã ôm lấy tôi khóc mà nói rằng em đã bị tôi cướp mất linh hồn rồi!
Rồi trong cái giây phút ngắn ngủi và
thiêng liêng ấy em đã trao cho tôi tất cả!
***
Một thời gian sau cầu đã xong, chúng tôi
phải về cơ quan nhận nhiệm vụ mới!
Hôm chia tay, không chỉ có ông bà chủ nhà
mà còn các cộng sự ở địa phương cũng ra tiễn. Hòa thì vừa khóc, vừa tất tả chạy
đi, chạy lại giúi vào ba lô của hai anh em tôi những bắp ngô, những củ khoai
của nhà. Lại cả mấy rọ bưởi đến hơn chục quả ngon nhất trong vườn nữa.
Xe đã nổ máy, Hòa chạy vội giúi vào tay
tôi một gói giấy nhỏ. Những giọt nước mắt đầm đìa trên khuôn mặt em, đến bây
giờ tôi vẫn thấy như hiện ra trước mắt.
Về đến Hà Nội tôi giở cái gói giấy nhỏ mà
Hòa trao cho tôi lúc xe chuyển bánh. Đó là cây thánh giá nhỏ bằng bạc mà hằng
ngày em vẫn đeo trước ngực.
***
Sau bao nhiêu năm trở lại đây, tôi mới
biết Hòa đã mất cả cuộc đời để chờ đợi. Em vẫn luôn đinh ninh rằng thế nào cũng
có ngày tôi sẽ quay trở lại tìm em. Nhưng những năm tháng đợi chờ khắc khoải
dài vô tận ấy đã quá sức chịu đựng của một người con gái mảnh mai, yếu ớt.
Em ra đi khi còn rất trẻ. Ra đi mà vẫn
ước ao mong có ngày gặp lại.
Tôi, một kẻ lãng du vô tâm. Cả đời không
biết trân trọng và gìn giữ một cái gì cho ra hồn.
Mãi đến lúc đã sang dốc bên kia của cuộc
đời; lúc chỉ còn một mình trơ trọi, quạnh hiu trong trống vắng; mới chợt nhớ ra
rằng mình cũng đã từng có một người trên đời này yêu quí.
Tôi về đây tìm lại em, thì em không còn
nữa!
Mọi sự ăn năn đối với tôi giờ đây đều đã
quá muộn mằn!
***
Sáng hôm sau cháu Lâm đưa tôi ra thăm mộ
Hòa. Em được đặt nằm bên cạnh mộ bố mẹ. Nhìn ảnh em trên tấm bia nhỏ, tôi thật
sửng sốt và không sao cầm được nước mắt.
Em vẫn nhìn tôi với đôi mắt trong trẻo,
ngây thơ như ngày đầu mới gặp.
Tôi xin Lâm địa chỉ của Thanh trên thị
xã; rồi hai bác cháu tôi chia tay nhau.
Đến thị xã đã quá trưa. Việc tìm một
doanh nhân trẻ thành đạt ở cái thị trấn nhỏ bé này không có gì là khó.
Gặp Thanh, tôi thấy đúng là hiện thân của
Hòa khi còn trẻ. Đôi mắt giống hệt mẹ nhưng tinh nhanh hơn và buồn hơn.
Không ngạc nhiên nhiều, Thanh đón lấy cây
thánh giá nhỏ nơi tôi một cách trân trọng, đưa lên môi hôn thành kính rồi ấp nó
vào trái tim mình.
Thanh làm dấu thánh và lẩm nhẩm như khấn
thầm với người đã khuất:
- Chúa lòng lành vô hạn! Xin Người hãy
che chở và ban phước lành cho những người con thương yêu!
Lúc lâu sau đó, khi chỉ còn lại mình tôi,
Thanh mới nói:
- Cháu đã nhiều lần muốn để lại mảnh đất
cũ ở quê; di bàn thờ mẹ cháu lên đây để tiện hương khói; nhưng nhớ lời di
nguyện của mẹ trước lúc đi xa là phải giữ lại ngôi nhà như cũ. Không được làm
lại hoặc chuyển đi nơi khác.
Mẹ cháu không nói lí do, nhưng có lẽ
người muốn giữ lại nơi ấy là để đợi chờ một cái gì đó rất mong manh, rất mơ hồ,
mà vẫn không sao quên đi được!
Vậy mà ai có thể ngờ rằng cái ước nguyện
nhỏ nhoi và mong manh ấy của mẹ cháu giờ đây lại trở thành hiện thực!
Trong nghẹn ngào, Thanh nói:
- Bác ạ! Khi người con gái trao cho ai
cây thánh giá của mình, thì cô đã trao cả linh hồn cho anh ta rồi đấy!
Lát sau Thanh nói như an ủi tôi, mà cũng
như tự nhủ với chính mình:
- Vết thương nào cũng lên sẹo theo thời
gian; chỉ cần cố vượt qua thì rồi ta cũng sẽ vượt qua được, bác à!
Không biết phải bày tỏ thế nào để Thanh
hiểu và tha thứ cho mình. Tôi càng thấm thía rằng trên đời này cái gì cũng có
cái giá của nó!
Đã vay tất phải trả!
Hôm sau chia tay, Thanh đưa tôi ra bến xe
thị xã. Lúc xe sắp chạy, cháu đưa cho tôi một cái hộp nhỏ và nói:
- Bác ạ, cái gì đã thuộc về mình, thì dù
thế nào mình cũng phải giữ lấy. Người khác không giữ hộ được đâu!
Trên xe tôi giở cái hộp ra thì đó vẫn là
cây thánh giá nhỏ mà Hòa đã trao cho tôi ba mươi năm về trước.
Hà Nội,2012.
Liên hệ: DĐ:
0915140055
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét