Hồi mới từ hậu phương được mẹ đón về sau
mấy năm ly tán do loạn lạc, tôi mới mười, mười một tuổi. Cũng từ đó chấm dứt cuộc
sống lang thang cơ nhỡ.
Tôi thấm thía rằng để sống được, ngoài sự
nuôi dưỡng của bố mẹ, thì chỉ còn có thể trông cậy vào chính bản thân mình.
Bố tôi đi kháng chiến, anh cả tòng quân
theo một đơn vị bộ đội đánh Pháp ở mãi Điện Biên xa lắc.
Y như sau cái vẩy đũa thần của một bà
tiên tốt bụng. Về với mẹ, tôi được ăn no, được đi học. Cuộc đời thay đổi hoàn
toàn. Từ khốn khó, khổ cực sang một cuộc sống mà tôi cho là tuyệt diệu không
còn gì để ao ước thêm nữa, mặc dù lúc ấy mẹ tôi chỉ là một công nhân đội than
trong nhà máy Xi măng, lại phải nuôi ba đứa con còn thơ dại.
Sau đó mẹ cho tôi đi học. Tôi được học
một ông thày dạy tư thục nổi tiếng nhất vùng về sự nghiêm khắc. Thày giáo Cửu.
Mẹ tôi chưa từng đi học, nhưng bà bảo:
- Muốn học giỏi, phải chọn thày giáo dữ
đòn!
Tôi đi học muộn, hơn mười tuổi mới học vỡ
lòng, nên vào loại lớn trong lớp, thày xếp ngồi ở dãy bàn cuối lớp. Đã trải qua
quãng tuổi thơ vô cùng cay đắng nên tôi rất sợ bị đòn roi, cũng như sợ sự hành
hạ thể xác của người lớn. Nhưng mạnh hơn cả là do khao khát được học, vì vậy
suốt những năm đi học tôi chưa bao giờ bị đòn.
Còn nhớ lúc phải ăn đói, mặc rách, đi ăn,
đi ở, thấy những bạn bè cùng trang lứa cắp sách đến trường tôi đã thèm khát
biết bao, ao ước biết bao!
Tôi chăm học đến độ mẹ tôi sợ tôi sẽ bị
điên vì “ngộ chữ”, nên cứ mười một giờ đêm là bà tắt đèn bắt tôi đi ngủ. Nhưng
tôi lại thắp đèn dầu rồi chùm chăn lại để học. Do học trường tư thục nên mỗi
năm tôi học luôn hai lớp mà vẫn vào loại khá, giỏi. Đến cấp ba tôi đã vào loại
nhỏ tuổi trong lớp.
Lớn hơn một chút, khoảng mười bảy, mười
tám, học xong Trung học tôi lại phải nghỉ học, để đi đẩy xe than trong nhà máy
Xi măng. Tuy vậy tôi vẫn còn hạnh phúc hơn hai chị nhiều, bởi các chị tôi còn
không được cắp sách đến trường.
Khi đi đẩy xe than ở bộ phận vận chuyển,
tôi mới được những người công nhân cùng ca kể cho nghe nguyên do vì sao mẹ tôi
lại bị Tây bắt, Tây bỏ tù. (Vì mẹ tôi không bao giờ kể).
Chẳng phải vì bà có chồng, có con là Việt
Minh mà bị bắt, bị tù đâu!
Người ta kể lại rằng khi bà bị Tây phục
kích bắt tại nhà. Chúng khám tìm được cả lựu đạn, cả cờ và truyền đơn do bố tôi đi hoạt động còn cất giấu trong một hòm đồ cũ. Lúc ấy bà mới biết chồng
và thằng con lớn của mình là Việt Minh.
Bà chỉ còn biết sụp xuống trước mấy thằng
Tây, khóc, chắp tay "lạy quan lớn” xin tha chết!
Tây cũng biết người đàn bà mù chữ và
nghèo khổ này không phải là Việt Minh, bởi nếu là Việt Minh, thì bà đã không
khóc và “chắp tay lạy quan lớn” như vậy.
Chúng cũng chẳng bắt bà làm gì, chúng
nghĩ là nếu để mẹ tôi tự do ở ngoài thì thế nào cũng có lúc bố tôi tìm về gặp
lại. Lúc ấy mới “vồ” thì “trúng trăm phần trăm Việt Minh chính cống”!
Năm sau có một thằng Việt Minh
“dinh-tê”(1). Thằng Phùng Văn Đán, trước có theo Việt Minh đi kháng chiến, sau
không chịu được khổ đã ra “đầu hàng chính nghĩa”; cam tâm làm tay sai cho giặc!
Thằng này là một thằng nhà quê, nên không
có nhà ở Hải Phòng. Quanh quẩn thế nào nó lại mò đến đúng nhà tôi, một ngõ nhỏ
ngay cạnh nhà máy Xi Măng.
Nó nêu lý do với “các quan Tây” là ở đây
vừa tiện theo dõi phong trào công nhân trong nhà máy, vừa tiện dò la hoạt động
của bố tôi lúc bấy giờ đã là một chỉ huy.
Tất nhiên là Tây “đắc-co”(2) ngay, tuy nó
cũng biết cái cớ này chỉ là ngụy tạo dùng che đậy cái lý do chính là thằng Đán
muốn dấu con vợ của một nhà buôn trên phố Cầu Đất mà nó vừa “chớp” được. Đán là
một tên chỉ điểm cực kỳ lợi hại mà bọn Pháp vừa “vợt” được, nên cũng muốn cưng
chiều tý chút, hòng nó mang hết “sức khuyển mã”(3) mà cung phụng cho thày.
Đúng là rất hiệu quả! Do có thời gian dài
ở với Việt Minh, nên thằng chỉ điểm này nhận ra Việt Minh như có đôi mắt thần
vậy, nó chỉ ai là chính xác ngay người ấy.
Khi thằng Đán đến chiếm nhà tôi, thì mẹ
tôi chỉ còn lại có một mình. Ngày đi đội than để kiếm sống, tối về khóc, hờ
chồng, hờ con tới khuya, làm cho xóm giềng dù rất thương cũng dần thấy khó
chịu.
Nhà tôi có cái phản to bằng gụ kê ở giữa
nhà mà thằng Đán dùng để gá bạc. Nó tách hai cánh phản ra đặt một cái bể xi
măng bên dưới khe hở để làm nơi đựng tiền hồ. Có những hôm nó thu gần đầy cái
bể tiền hồ của những người đến đánh bạc.
Tuy nó mới gần bốn mươi tuổi, nhưng dân
quanh đấy đều phải cung kính gọi nó là cụ - “Cụ Đán”! Ai làm nó thất ý hoặc có
hàng rong nào qua ngõ rao to làm mất giấc ngủ trưa là nó sai đầy tớ lôi vào nhà
đánh đập rất dã man. Một hôm có ông lão bán chiếu đi qua ngõ bị con chó nhà nó
chạy ra đớp một miếng vào chân. Ông lão rút đòn gánh ra đánh lại, làm con chó
vừa kêu ăng ẳng vừa chạy vào nhà với cái chân đau khập khiễng.
Thằng Đán đã dùng ngay chiếc đòn gánh ấy
đập ông lão cho đến chết.
Mẹ tôi là một người đàn bà nghèo khổ, lam
lũ nhưng chứng kiến những cảnh dã man của thằng Việt Gian ấy, bà phản ứng bằng
cách những ngày không đi làm cứ buông màn nằm trên chiếc phản giữa nhà ngủ.
Việc làm ấy đã làm cho tên chó săn hết sức bực bội. Nó vừa mất chỗ đánh bạc,
vừa khó chịu vì bị bà chọc tức. Đã mấy lần nó định ra tay đàn áp, nhưng bà cũng
không vừa, có lần bà đã cầm dao lao vào chém nó. Giết bà thì quan Tây chưa cho.
Còn để đấy làm mồi nhử ông chồng Việt Minh của bà ta chứ!
Tây bảo với Đán: - “Đây là nhà của bà ta,
bà ta muốn làm gì thì làm. Sao lại có cái chuyện vừa đến chiếm nhà, lại vừa bắt
chủ nhà làm theo ý mình được”!
Tây cũng bàn với nhau:
- “Bà ta không phải là Việt Minh, nhưng
cũng là vợ, là mẹ Việt Minh! Dù sao cũng đáng tôn trọng hơn bất cứ một thằng
Việt Gian phản bội nào! Mới lại giết người cũng phải có lý do chứ”! Thế mới
biết Tây dù sao cũng vẫn là Tây!
Một thời gian sau thằng Đán “nảy ra sáng
kiến”; nó đề đạt với quan thày:
- “Để tiện việc bắt liên lạc với những
phần tử Việt Minh thoái hóa, muốn “dinh-tê” như nó”! Chỉ có cách bắt bà ta đi
tù, mới dễ dàng “hoàn thành nhiệm vụ”!
Nó nói đi, nói lại mãi, dần dần Tây cũng
mềm lòng! Thế là mẹ tôi đã bị bọn Pháp bắt đi tù ở “căng”(4) Máy Chai Hải Phòng
suốt sáu, bày năm trời.
Thằng Đán rảnh tay càng ngày càng hung
hãn, nó đã chỉ điểm cho Tây bắt được rất nhiều Việt Minh vào hoạt động nội
thành. Có lần nó còn tự tay đánh đến chết một đồng chí đã dám lên tiếng vạch tội
ác và dám xỉ vả cái nhân cách khốn nạn của nó.
Đã được Việt Minh cảnh cáo nhiều lần
nhưng thằng Đán vẫn “chó đen giữ mực” không chịu thay đổi chút nào. Đã đến lúc
không thể để tên chó săn này tồn tại lâu hơn nữa,
vì nó đã trở nên quá nguy hiểm!
Vào một buối sáng đầu hạ năm 1953; thằng Đán
dắt khẩu súng ngắn bên hông, khệnh khạng đạp chiếc xe đạp vào nhà máy. Khi cách
cổng chính khoảng trăm mét, mới qua băng chuyền than đầu tiên thì nghe thấy
tiếng gọi sau lưng rất rành rọt:
- Đán! Đán!
Xưa nay chưa ai dám gọi nó với cái giọng
xách mé như thế! Ngay quan Tây có gọi, thì cũng gọi với cái giọng êm ái hơn
nhiều.
Thằng Đán dừng xe, chống chân trừng mắt
quay về phía tiếng gọi.
Chưa kịp định thần, thì Đán đã thấy
một khẩu súng ngắn gí đến sát gáy. Nó cố bình tĩnh rút khẩu súng dắt ở cạnh
sườn ra, nhưng người chiến sỹ biệt động đã nhẹ nhàng đánh bật khẩu súng của nó
văng xuống đất. Bình tĩnh đọc bản quyết định của Tòa án Cách mạng xử tội tên
chỉ điểm(5), rồi nổ súng.
Thằng Đán không kịp há mồm kêu, nó đổ vật
xuống đường. Mặt đập mạnh vào đám bụi dày bên dưới, làm cho bụi than đen bay
vọt lên tung tóe.
Người biệt động giắt khẩu súng vào cạp
quần, đặt một tờ cáo trạng của Tòa án Cách mạng lên xác tên chó săn, rồi thong
thả đi về phía đoàn xe goòng đang đẩy than vào bãi. Có cố để ý cũng không thể
phân biệt được ai với ai. Màu đen của than đã che đi tất cả, y như trong một lễ
hội hóa trang khổng lồ vậy.
Xe cảnh sát Tây, xe cảnh sát ta, hú còi
rầm rầm kéo đến năm bảy chiếc. Vây ráp, khám xét ầm ĩ lên một lúc. Nhưng chẳng
biết ai, cũng chẳng bắt được ai cả.
Sự việc khép lại nhanh như một cục đất
ném xuống ao bèo tấm. Khi sống, còn phục vụ quan thày, dù đắc lực mấy, thì Tây
vẫn coi thằng Đán chỉ là một con chó săn không hơn. Dù là ai, thực dân hay đế
quốc, cũng không có kẻ nào lại coi trọng một tên phản bội. Thế là một con chó chết,
vẫn chỉ là một con chó chết!
Trong hồ sơ và bộ nhớ của thực dân Pháp
không còn có chỗ cho tên chỉ điểm Phùng Văn Đán nữa.
Sau cái chết của Đán, chắc mấy thằng “mũi
lõ” ở Phòng Nhì(6) suy luận rằng:
- “Mẹ tôi bị thằng Đán chiếm nhà, rồi xúi
Tây bắt bỏ tù, thì chắc là “ông Việt Minh chồng” đã tìm về “khử” nó để trả
thù!”
Nghĩ vậy nên chúng vội vàng thả ngay mẹ
tôi ra, hòng rình để bắt bố tôi. Nhưng chúng đã lầm. Việt Minh không phải là
một tổ chức hoạt động chỉ chuyên để trả thù cá nhân! Vì thế chúng đã chẳng bắt
được ai cả.
Mẹ tôi về đến đầu ngõ thì thấy “con vợ
nhặt” của thằng Đán đang bán vội đồ đạc của nhà mình. Bà xông vào túm đánh con
“trốn chúa, lộn chồng” một trận thật dữ dội. Hàng xóm cũng vô cùng hả hê, ra
mặt ủng hộ “trận chiến khủng khiếp” ấy.
Con “đàn bà thối thây” kia đành “bỏ của
chạy lấy người” sau khi đã bị ăn một trận đòn tơi tả.
Năm nay tôi đã bảy nhăm tuổi, mẹ tôi cũng
quy tiên gần hai chục năm rồi. Nhưng mỗi lúc nhớ về mẹ, tôi lại thấy trong lòng
mình dâng lên một niềm yêu thương và kính phục vô bờ!
Hà Nội, 2013
(1) Dinh-tê:
nói chệch từ dinh tề nghĩa là quay vào vùng tề, ngụy; đầu hàng giặc.
(2) Đắc-co: d’accord: đồng ý. Tiếng Pháp
(3) Khuyển mã: chó ngựa
(4) Căng: trại giam, nhà tù (camp). Tiếng Pháp
(5) Tên chỉ điểm: tên ngầm báo cho địch để bắt
người. (mouchard, indicateur, délateur)
(6) Phòng Nhì: (Deuxième Bureau) thuộc Sở mật
thám Pháp (service de la sûreté).
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét