tháng 9 19, 2014

Bụi than

Hồi mới từ hậu phương được mẹ đón về sau mấy năm ly tán do loạn lạc, tôi mới mười, mười một tuổi. Cũng từ đó chấm dứt cuộc sống lang thang cơ nhỡ.
Tôi thấm thía rằng để sống được, ngoài sự nuôi dưỡng của bố mẹ, thì chỉ còn có thể trông cậy vào chính bản thân mình.
Bố tôi đi kháng chiến, anh cả tòng quân theo một đơn vị bộ đội đánh Pháp ở mãi Điện Biên xa lắc.
Y như sau cái vẩy đũa thần của một bà tiên tốt bụng. Về với mẹ, tôi được ăn no, được đi học. Cuộc đời thay đổi hoàn toàn. Từ khốn khó, khổ cực sang một cuộc sống mà tôi cho là tuyệt diệu không còn gì để ao ước thêm nữa, mặc dù lúc ấy mẹ tôi chỉ là một công nhân đội than trong nhà máy Xi măng, lại phải nuôi ba đứa con còn thơ dại.
Sau đó mẹ cho tôi đi học. Tôi được học một ông thày dạy tư thục nổi tiếng nhất vùng về sự nghiêm khắc. Thày giáo Cửu.
Mẹ tôi chưa từng đi học, nhưng bà bảo:
- Muốn học giỏi, phải chọn thày giáo dữ đòn!
Tôi đi học muộn, hơn mười tuổi mới học vỡ lòng, nên vào loại lớn trong lớp, thày xếp ngồi ở dãy bàn cuối lớp. Đã trải qua quãng tuổi thơ vô cùng cay đắng nên tôi rất sợ bị đòn roi, cũng như sợ sự hành hạ thể xác của người lớn. Nhưng mạnh hơn cả là do khao khát được học, vì vậy suốt những năm đi học tôi chưa bao giờ bị đòn.
Còn nhớ lúc phải ăn đói, mặc rách, đi ăn, đi ở, thấy những bạn bè cùng trang lứa cắp sách đến trường tôi đã thèm khát biết bao, ao ước biết bao!
Tôi chăm học đến độ mẹ tôi sợ tôi sẽ bị điên vì “ngộ chữ”, nên cứ mười một giờ đêm là bà tắt đèn bắt tôi đi ngủ. Nhưng tôi lại thắp đèn dầu rồi chùm chăn lại để học. Do học trường tư thục nên mỗi năm tôi học luôn hai lớp mà vẫn vào loại khá, giỏi. Đến cấp ba tôi đã vào loại nhỏ tuổi trong lớp. 
Lớn hơn một chút, khoảng mười bảy, mười tám, học xong Trung học tôi lại phải nghỉ học, để đi đẩy xe than trong nhà máy Xi măng. Tuy vậy tôi vẫn còn hạnh phúc hơn hai chị nhiều, bởi các chị tôi còn không được cắp sách đến trường.  
Khi đi đẩy xe than ở bộ phận vận chuyển, tôi mới được những người công nhân cùng ca kể cho nghe nguyên do vì sao mẹ tôi lại bị Tây bắt, Tây bỏ tù. (Vì mẹ tôi không bao giờ kể).
Chẳng phải vì bà có chồng, có con là Việt Minh mà bị bắt, bị tù đâu!
Người ta kể lại rằng khi bà bị Tây phục kích bắt tại nhà. Chúng khám tìm được cả lựu đạn, cả cờ và truyền đơn do bố tôi đi hoạt động còn cất giấu trong một hòm đồ cũ. Lúc ấy bà mới biết chồng và thằng con lớn của mình là Việt Minh.
Bà chỉ còn biết sụp xuống trước mấy thằng Tây, khóc, chắp tay "lạy quan lớn” xin tha chết!
Tây cũng biết người đàn bà mù chữ và nghèo khổ này không phải là Việt Minh, bởi nếu là Việt Minh, thì bà đã không khóc và “chắp tay lạy quan lớn” như vậy. 
Chúng cũng chẳng bắt bà làm gì, chúng nghĩ là nếu để mẹ tôi tự do ở ngoài thì thế nào cũng có lúc bố tôi tìm về gặp lại. Lúc ấy mới “vồ” thì “trúng trăm phần trăm Việt Minh chính cống”!
Năm sau có một thằng Việt Minh “dinh-tê”(1). Thằng Phùng Văn Đán, trước có theo Việt Minh đi kháng chiến, sau không chịu được khổ đã ra “đầu hàng chính nghĩa”; cam tâm làm tay sai cho giặc!
Thằng này là một thằng nhà quê, nên không có nhà ở Hải Phòng. Quanh quẩn thế nào nó lại mò đến đúng nhà tôi, một ngõ nhỏ ngay cạnh nhà máy Xi Măng.
Nó nêu lý do với “các quan Tây” là ở đây vừa tiện theo dõi phong trào công nhân trong nhà máy, vừa tiện dò la hoạt động của bố tôi lúc bấy giờ đã là một chỉ huy.
Tất nhiên là Tây “đắc-co”(2) ngay, tuy nó cũng biết cái cớ này chỉ là ngụy tạo dùng che đậy cái lý do chính là thằng Đán muốn dấu con vợ của một nhà buôn trên phố Cầu Đất mà nó vừa “chớp” được. Đán là một tên chỉ điểm cực kỳ lợi hại mà bọn Pháp vừa “vợt” được, nên cũng muốn cưng chiều tý chút, hòng nó mang hết “sức khuyển mã”(3) mà cung phụng cho thày.
Đúng là rất hiệu quả! Do có thời gian dài ở với Việt Minh, nên thằng chỉ điểm này nhận ra Việt Minh như có đôi mắt thần vậy, nó chỉ ai là chính xác ngay người ấy.
Khi thằng Đán đến chiếm nhà tôi, thì mẹ tôi chỉ còn lại có một mình. Ngày đi đội than để kiếm sống, tối về khóc, hờ chồng, hờ con tới khuya, làm cho xóm giềng dù rất thương cũng dần thấy khó chịu.
Nhà tôi có cái phản to bằng gụ kê ở giữa nhà mà thằng Đán dùng để gá bạc. Nó tách hai cánh phản ra đặt một cái bể xi măng bên dưới khe hở để làm nơi đựng tiền hồ. Có những hôm nó thu gần đầy cái bể tiền hồ của những người đến đánh bạc.
Tuy nó mới gần bốn mươi tuổi, nhưng dân quanh đấy đều phải cung kính gọi nó là cụ - “Cụ Đán”! Ai làm nó thất ý hoặc có hàng rong nào qua ngõ rao to làm mất giấc ngủ trưa là nó sai đầy tớ lôi vào nhà đánh đập rất dã man. Một hôm có ông lão bán chiếu đi qua ngõ bị con chó nhà nó chạy ra đớp một miếng vào chân. Ông lão rút đòn gánh ra đánh lại, làm con chó vừa kêu ăng ẳng vừa chạy vào nhà với cái chân đau khập khiễng.
Thằng Đán đã dùng ngay chiếc đòn gánh ấy đập ông lão cho đến chết.
Mẹ tôi là một người đàn bà nghèo khổ, lam lũ nhưng chứng kiến những cảnh dã man của thằng Việt Gian ấy, bà phản ứng bằng cách những ngày không đi làm cứ buông màn nằm trên chiếc phản giữa nhà ngủ. Việc làm ấy đã làm cho tên chó săn hết sức bực bội. Nó vừa mất chỗ đánh bạc, vừa khó chịu vì bị bà chọc tức. Đã mấy lần nó định ra tay đàn áp, nhưng bà cũng không vừa, có lần bà đã cầm dao lao vào chém nó. Giết bà thì quan Tây chưa cho. Còn để đấy làm mồi nhử ông chồng Việt Minh của bà ta chứ!
Tây bảo với Đán: - “Đây là nhà của bà ta, bà ta muốn làm gì thì làm. Sao lại có cái chuyện vừa đến chiếm nhà, lại vừa bắt chủ nhà làm theo ý mình được”!
Tây cũng bàn với nhau:
- “Bà ta không phải là Việt Minh, nhưng cũng là vợ, là mẹ Việt Minh! Dù sao cũng đáng tôn trọng hơn bất cứ một thằng Việt Gian phản bội nào! Mới lại giết người cũng phải có lý do chứ”! Thế mới biết Tây dù sao cũng vẫn là Tây!
Một thời gian sau thằng Đán “nảy ra sáng kiến”; nó đề đạt với quan thày:
- “Để tiện việc bắt liên lạc với những phần tử Việt Minh thoái hóa, muốn “dinh-tê” như nó”! Chỉ có cách bắt bà ta đi tù, mới dễ dàng “hoàn thành nhiệm vụ”!
Nó nói đi, nói lại mãi, dần dần Tây cũng mềm lòng! Thế là mẹ tôi đã bị bọn Pháp bắt đi tù ở “căng”(4) Máy Chai Hải Phòng suốt sáu, bày năm trời.
Thằng Đán rảnh tay càng ngày càng hung hãn, nó đã chỉ điểm cho Tây bắt được rất nhiều Việt Minh vào hoạt động nội thành. Có lần nó còn tự tay đánh đến chết một đồng chí đã dám lên tiếng vạch tội ác và dám xỉ vả cái nhân cách khốn nạn của nó.
Đã được Việt Minh cảnh cáo nhiều lần nhưng thằng Đán vẫn “chó đen giữ mực” không chịu thay đổi chút nào. Đã đến lúc không thể để tên chó săn này tồn tại lâu hơn nữa, vì nó đã trở nên quá nguy hiểm!
 Vào một buối sáng đầu hạ năm 1953; thằng Đán dắt khẩu súng ngắn bên hông, khệnh khạng đạp chiếc xe đạp vào nhà máy. Khi cách cổng chính khoảng trăm mét, mới qua băng chuyền than đầu tiên thì nghe thấy tiếng gọi sau lưng rất rành rọt:
- Đán! Đán!
Xưa nay chưa ai dám gọi nó với cái giọng xách mé như thế! Ngay quan Tây có gọi, thì cũng gọi với cái giọng êm ái hơn nhiều.
Thằng Đán dừng xe, chống chân trừng mắt quay về phía tiếng gọi.
Chưa kịp định thần, thì Đán đã thấy một khẩu súng ngắn gí đến sát gáy. Nó cố bình tĩnh rút khẩu súng dắt ở cạnh sườn ra, nhưng người chiến sỹ biệt động đã nhẹ nhàng đánh bật khẩu súng của nó văng xuống đất. Bình tĩnh đọc bản quyết định của Tòa án Cách mạng xử tội tên chỉ điểm(5), rồi nổ súng.
Thằng Đán không kịp há mồm kêu, nó đổ vật xuống đường. Mặt đập mạnh vào đám bụi dày bên dưới, làm cho bụi than đen bay vọt lên tung tóe.
Người biệt động giắt khẩu súng vào cạp quần, đặt một tờ cáo trạng của Tòa án Cách mạng lên xác tên chó săn, rồi thong thả đi về phía đoàn xe goòng đang đẩy than vào bãi. Có cố để ý cũng không thể phân biệt được ai với ai. Màu đen của than đã che đi tất cả, y như trong một lễ hội hóa trang khổng lồ vậy.
Xe cảnh sát Tây, xe cảnh sát ta, hú còi rầm rầm kéo đến năm bảy chiếc. Vây ráp, khám xét ầm ĩ lên một lúc. Nhưng chẳng biết ai, cũng chẳng bắt được ai cả.
Sự việc khép lại nhanh như một cục đất ném xuống ao bèo tấm. Khi sống, còn phục vụ quan thày, dù đắc lực mấy, thì Tây vẫn coi thằng Đán chỉ là một con chó săn không hơn. Dù là ai, thực dân hay đế quốc, cũng không có kẻ nào lại coi trọng một tên phản bội. Thế là một con chó chết, vẫn chỉ là một con chó chết!
Trong hồ sơ và bộ nhớ của thực dân Pháp không còn có chỗ cho tên chỉ điểm Phùng Văn Đán nữa.
Sau cái chết của Đán, chắc mấy thằng “mũi lõ” ở Phòng Nhì(6) suy luận rằng:
- “Mẹ tôi bị thằng Đán chiếm nhà, rồi xúi Tây bắt bỏ tù, thì chắc là “ông Việt Minh chồng” đã tìm về “khử” nó để trả thù!”
Nghĩ vậy nên chúng vội vàng thả ngay mẹ tôi ra, hòng rình để bắt bố tôi. Nhưng chúng đã lầm. Việt Minh không phải là một tổ chức hoạt động chỉ chuyên để trả thù cá nhân! Vì thế chúng đã chẳng bắt được ai cả.
Mẹ tôi về đến đầu ngõ thì thấy “con vợ nhặt” của thằng Đán đang bán vội đồ đạc của nhà mình. Bà xông vào túm đánh con “trốn chúa, lộn chồng” một trận thật dữ dội. Hàng xóm cũng vô cùng hả hê, ra mặt ủng hộ “trận chiến khủng khiếp” ấy.
Con “đàn bà thối thây” kia đành “bỏ của chạy lấy người” sau khi đã bị ăn một trận đòn tơi tả.
Năm nay tôi đã bảy nhăm tuổi, mẹ tôi cũng quy tiên gần hai chục năm rồi. Nhưng mỗi lúc nhớ về mẹ, tôi lại thấy trong lòng mình dâng lên một niềm yêu thương và kính phục vô bờ!                        

                                                                                                                     Hà Nội, 2013          
(1) Dinh-tê: nói chệch từ dinh tề nghĩa là quay vào vùng tề, ngụy; đầu hàng giặc.
(2) Đắc-co: d’accord: đồng ý. Tiếng Pháp
(3) Khuyển mã: chó ngựa
(4) Căng: trại giam, nhà tù (camp). Tiếng Pháp
(5) Tên chỉ điểm: tên ngầm báo cho địch để bắt người. (mouchard, indicateur, délateur)
(6) Phòng Nhì: (Deuxième Bureau) thuộc Sở mật thám Pháp (service de la sûreté). 

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét