tháng 9 23, 2014

Bức chân dung

Tôi thắp thêm một tuần hương nữa cho chồng, cắm vào bát hương bằng cẩm thạch mà tôi vừa mang từ Ấn Độ về, rồi đứng dậy nói với ông:
- Em về đây anh ạ. Anh hãy yên nghỉ, trái tim yêu quý của em.
Tôi bỗng ứa nước mắt thương chồng và nhớ rằng, hơn mười năm ăn ở với nhau, tôi chưa bao giờ nói được một câu âu yếm nào đại loại như vậy với ông. Vả lại lúc còn sống, ông là người rất nhạy cảm, nếu tôi nói một câu tương tự như thế hẳn thế nào ông cũng cảm động đến chảy nước mắt.
Chồng tôi không còn nữa. Ông đã chết cách đây tám năm, mười tháng trong một bệnh viện nhỏ ngoại ô với căn bệnh viêm phổi cấp. Lúc đó chúng tôi không có đủ tiền để trả viện phí và còn nợ hơn một năm tiền thuê nhà. Cũng may mà việc mai táng được bạn bè góp giúp, nên cuối cùng ông cũng được chôn cất theo một nghi thức xoàng xĩnh.
Bỗng chốc tôi trở thành một mệnh phụ giàu có. Có cả một cái vi-la vào loại đẹp nhất, sang nhất ở vào vị trí đắt giá nhất trong thành phố, có điều hoà nhiệt độ, có ôtô riêng, có kẻ hầu người hạ. Vài tháng lại làm một cuộc du lịch, đi đâu cũng được. Và như một cô bạn bảo tôi - Ông chết vào giờ thiêng nên phù hộ cho vợ, vì thế của cải cứ đổ vào nhà như hót được. Tôi lắm lúc cứ như nằm mơ, chẳng biết lý cố như thế nào nữa.
Khi mà tôi mới hơn bốn chục tuổi, không con cái, nên có nhiều người nói không ngoa là tôi còn đẹp lắm, còn đằm thắm lắm, còn làm đắm say nhiều trái tim và cả nhiều cái dạ dày nữa. Song tôi thì chẳng còn bụng dạ nào để ý đến ai được nữa khi mà tôi vừa mất đi một người chồng, một người bạn, một người thày. Ông như mặt trời, nên những đốm sáng le lói của những con đom đóm không thể nào còn toả sáng trong tôi được nữa.
Chẳng phải tôi thích ngoa ngôn mà nói về ông như thế, cũng chẳng phải vì ông đã để lại cho tôi một gia tài vô giá mà tôi và những người như tôi chẳng bao giờ hiểu hết. Chỉ có ông là biết được giá trị thực của nó, còn bạn bè ông thì chẳng bao giờ họ nói ra cả.
Chúng tôi biết nhau trong một trường hợp gần như có sự sắp xếp của tiền định. Lúc đó tôi mới ngoài hai mươi tuổi, còn ông đã xấp xỉ sáu mươi.
Ông sống độc thân, rất nghèo, ở thuê một căn gác xép trong một ngõ hẻm, ăn uống thất thường.
Còn tôi cũng rất nghèo, tất nhiên thôi, khi mà tôi dù đã tốt nghiệp Đại học Ngoại ngữ. Nhưng khổ nỗi ở vào cái thời mà Anh văn chẳng biết dùng làm gì, lại không chịu sự phân công của tổ chức đi tận mãi Lai Châu để làm cô giáo Tiểu học.
Bố mẹ tôi đều là công nhân lao động nên không có tiền để chạy chọt. Rồi cũng chẳng hiểu từ đâu mẹ tôi dắt về nhà một anh Công an trẻ hứa chắc chắn là sẽ xin cho tôi công tác ở Hà Nội nếu như tôi bằng lòng lấy anh ta. Nghe đâu anh ta là con trai của một ông Viện trưởng nào đó. Nhưng do lòng kiêu hãnh của tuổi trẻ, tôi đã từ chối cuộc tình trao đổi đó. Vì vậy tôi khổ cũng là đáng đời.
Ở nhà ăn bám bố mẹ gần năm trời. Không hộ khẩu, không việc làm với những lời day dứt không thôi của mọi người, tôi đành xách khăn gói ra đi. Và cũng thật may mắn vì có một anh bạn cùng lớp xin cho một chân phụ nề. Thế là tôi tìm đến thuê nhà ở gần công trường lại đúng là cái căn nhà mà ông đã thuê trên gác xép. Nói là thuê nhà, chứ thực ra là đến ngủ chung với bà chủ nhà goá chồng, già nua và nghèo túng. Hàng tháng đỡ đần bà chút ít. Thế là ngày đi làm, tối về mệt mỏi, chán chường tôi lăn ra ngủ như một khúc gỗ.
Ông và tôi ở chung trong một mái nhà như thế đã gần hai năm mà chẳng mấy khi gặp nhau. Đôi ba lần có gặp nhau cũng chỉ chào hỏi xã giao rồi ai làm việc nấy và đã chẳng xảy ra chuyện gì nếu như không có một sự cố nho nhỏ.
Ông già thuê nhà trên gác xép một lần ra ngoài trời bị mưa ướt và với cái thể trạng gầy gò, yếu đuối, ông bị một cơn sốt đánh quỵ. Bà chủ nhà cuống lên khi phát hiện đã ba ngày rồi, không thấy ông ta xuống gác. Khi bà già và tôi bước vào căn gác nhỏ bừa bộn, thì thấy ông nằm thiêm thiếp trên giường như một xác ướp, nhợt nhạt và thoi thóp.
Sau lần cấp cứu ấy, ba chúng tôi gần gũi nhau hơn và bấy giờ tôi mới biết ông là một hoạ sỹ. Ông nghèo, tất nhiên thôi, vì là hoạ sĩ tự do, không người thân thích và rất ít bạn bè.
Ông sống trầm lặng, suy nghĩ, làm việc, ít nói, ít đi lại, ít nốt cả ăn uống và giao tiếp. Tôi không hiểu biết về nghệ thuật hội hoạ và cũng không yêu thích nó nhiều. Nhưng sau khi chỉ tiếp súc với ông có vài lần, thì chẳng hiểu sao trái tim thanh nữ, trinh trắng của tôi lại thật sự xúc động trước một người đàn ông đã luống tuổi, chẳng có chút hấp dẫn nào ấy. Cũng thật là lạ, khi ông không hề tỏ thái độ ân cần hoặc thuyết phục nào đối với tôi. Và cũng thật là lạ, khi tôi bước qua cái ngưỡng của sự mặc cảm, đó là lần đầu khi tôi ngỏ ý muốn cùng ông chung sống. Ông đã ngồi lặng đi như hoá đá, giờ lâu mới nhìn tôi nặng nhọc trả lời:
- Cô đã lầm rồi, cô bé ạ! Tôi và cô, hai người dù có cảnh ngộ gần giống nhau, nhưng lại có những cách biệt quá lớn: Tuổi tác - Sở thích - Cuộc sống. Cô thì mới bước vào cuộc đời, còn tôi thì sắp từ giã nó. Cô lại chưa biết gì về tôi, nên đừng vì thương hại một người như tôi mà làm hỏng cả cuộc đời còn đầy hứa hẹn của mình. Tôi chắc cô là một người hiểu biết và tin là cô sẽ không xử sự hồ đồ.
Nhưng tôi thì như một mũi tên đã bật khỏi dây cung, không thể và không muốn dừng lại nữa. Tôi khăng khăng đòi dọn đồ đạc lên căn gác xép của ông và nhất quyết cùng ông chung sống.
Gần một năm sau, ông biết là chẳng thể dỗ dành tôi trở lui, ông đã cùng tôi đi đăng ký kết hôn. Gia đình và bạn bè đều cho tôi là một con khùng hết phương cứu chữa, vì vậy chẳng ai buồn nom dòm đến tôi nữa.
Những năm chung sống, ông hết lòng quý mến và chiều chuộng tôi. Còn tôi cũng cố như một người vợ hiền, vừa tần tảo đỡ đần ông trong sinh hoạt vừa khích lệ ông trong sáng tác.
Ông vẽ rất nhiều, chất liệu nào cũng vẽ. Trên giấy học sinh đã viết một mặt, thậm chí cả trên báo cũ. Vẽ bằng bút mực, bút chì, bút bi và bằng cả phấn nữa. Khổ tranh cũng thế, bằng quyển vở nhỏ, bằng bàn tay, bằng bao thuốc lá. Gặp gì ông cũng vẽ, con chó cún, con gà, em bé, một túp lều, thậm chí chỉ là một chiếc ghế gãy. Y như không vẽ thì không thể chịu được. Nét vẽ của ông thật phóng túng và tài hoa, khác hẳn với bề ngoài giản dị đến buồn tẻ của ông.
Tranh vẽ được, ông có gửi bán ở một số nơi. Nhưng vì ông chẳng mấy chú ý đến lời góp ý của những người bán tranh và như nhiều người nhận xét - Tranh của ông buồn - nên chẳng mấy khi bán được, có bán thì giá cũng rẻ như bèo. Đôi khi ông đem tranh tặng mấy ông chủ quán cắt tóc, quán cà-phê vì lẽ ông hay lui tới nhưng lại không hay có tiền để trả. Ông mất đi và sẽ chẳng có ai nhắc đến nếu như vài năm năm gần đây không có mấy ông Tây, bà Đầm mắt xanh, mũi lõ ra vào mảnh đất này.
Khi mua hết những tranh của ông gửi bán, họ đã tìm đến túp lều mà tôi ở thuê để sưu tầm tranh của ông. Rồi họ đua nhau mua tranh của ông với giá thật sửng sốt. Lúc còn sống, chưa có tranh nào ông bán vượt được một trăm đô-la, thế mà giờ đây những tranh nhỏ hơn, xấu hơn (đó là theo tôi, vì gửi lâu mà chưa bán được) đã nâng lên mười lần, rồi trăm lần.
Khi đã có tiền, tôi có lại bạn bè, người thân. Họ tham mưu cho tôi là nên mở một cuộc triển lãm tranh ông. Và như có phép thần, có những cái bán được cả mấy chục ngàn đô-la Mỹ. Tôi giàu lên nhanh chóng. Và giờ đây nhớ lại những năm tháng cùng ông chung sống, tôi mới thấy hết được giá trị. Nỗi mất mát của tôi khi ông mất đi thật kinh khủng. Đã có lúc  tôi muốn từ giã cõi đời này để đi theo ông, nhưng tôi là người không mê tín, tôi biết làm gì có cuộc sống ở bên kia thế giới. Vả lại khi tôi không còn nữa thì ai sẽ là người quản lý cái gia tài đồ sộ này, và kể lại cho mọi người nghe về cuộc đời đầy éo le của ông.
Ông sinh ra trong một gia đình trung lưu lớp dưới. Cha, hoạt động cách mạng bị địch bắt, tra tấn đến tàn phế, mẹ chợ búa nhì nhằng, anh trai hy sinh trong những ngày tiền khởi nghĩa, hai chị gái ít được học, ông là út nên được học hết Đíp-lôm rồi đi làm phu than ở một nhà máy nọ để giúp gia đình.
Niềm say mê hội hoạ từ nhỏ đã làm ông không thể nào không vẽ. Thế là vừa đẩy xe than vừa học vẽ ban đêm. Ai cũng bảo ông dở hơi, nhưng vốn hiền lành, ít nói lại yếu đuối nên ông càng lầm lì ngại giao tiếp. Ít lâu sau ông đã vẽ được một số tranh cho nơi làm việc. Họ cho ông đi học một lớp bổ túc, rồi thật không ngờ một lần có một hoạ sĩ bậc thày phát hiện ra ông và tranh ông. Hoạ sĩ ấy đã chân thành khuyên ông nên thi vào trường Cao đẳng Mỹ thuật. Và cũng thật không ngờ đúng lúc này nhà máy xắp xếp ông sang một chân công đoàn chuyên nghiệp thì có giấy gọi ông đi học Mỹ thuật.
Gia đình và bạn bè đều phản đối việc ông đi học Mỹ thuật. Họ cho là cùng một bức tranh, người khen đẹp, kẻ chê xấu làm gì có chuẩn mực, còn cái ghế công đoàn kia thì đúng là “ngồi mát ăn bát vàng”.
Tất nhiên chẳng ai cản nổi ông đi học. Ông theo học năm đầu, rồi năm thứ hai suôn sẻ. Kỳ nghỉ hè năm thứ ba ông cho treo trong nhà ngay chỗ sáng sủa nhất bức vẽ sơn dầu khổ lớn chân dung chị cả ông.
Ai cũng cho là bức tranh đó đẹp. Người ưng nhất có lẽ lại là anh Mười Công an khu vực. Anh ta đã khẩn khoản nhờ ông vẽ cho một bức chân dung như thế.
Nhưng do tuổi trẻ và do thiếu kinh nghiệm trong cuộc sống, ông đã từ chối, trước còn từ tốn sau lại rất kiên quyết. Đợt nhập học năm thứ ba ông bị gọi lên phòng tổ chức nhà trường để khai lại lý lịch. Đến cái lý lịch thứ mười lăm thì ông bị đình chỉ học tập vì thiếu thành khẩn trong khai báo thành phần.
Ông buồn rầu khăn gói trở về nhà đưa cho bố xem bản lý lịch mà ông đã khai với trường thì được bố ông cho biết đó là lời khai đúng. Cũng thật may là mấy ông bạn cũ của bố ông bấy giờ đang giữ những trọng trách trong bộ máy Nhà nưóc chứng thực vào bản lý lịch của bố ông. Thế là ông lại được tiếp tục học, nhưng đến khi tốt nghiệp dù vào loại ưu, ông cũng chỉ được phân công công tác rất xa nhà.
Lúc bấy giờ gia đình ông gặp cơn quẫn bách, bố ốm nặng, mẹ không còn chợ búa được nữa, hai chị lấy chồng nghèo chẳng nuôi nổi con cái họ, ông thì không còn cơ hội quay về nhà máy cũ dù chỉ là để xin một chân lao động. Ông đành xách ấm nhôm nước chè ra ga, len lên các hàng ghế trên tàu để kiếm kế sinh nhai.
Và khi bố mẹ không còn nữa, ông trở thành một hoạ sĩ tự do như tôi đã gặp. Ở vào cái thời điểm ấy không hộ khẩu, không lương bổng, tranh không được bán cho người nước ngoài vì nó “là tài sản quý của quốc gia”! Còn người “tạo ra nó” thì “muốn sống ra sao tuỳ thích!”
Mãi sau khi ông mất được ít lâu, lúc sắp xếp những tài liệu và những đống phác thảo đồ sộ của ông tôi mới tình cờ biết được số phận ông, số phận một con người tài hoa mà bạc phận, bị cuộc đời hay nói cho đúng là do một vài cá nhân bóp nặn, bẻ ngoẹo đi thành một thứ phế thải đày bi thương, đau đớn!
Những bản lý lịch, những nhận xét của địa phương nơi ông cư ngụ để ngổn ngang trước mắt tôi bỗng nhòa dần, đảo lộn, nhảy múa và bay lởn vởn trong không gian. Trong đám hỗn độn ấy bỗng hiện rõ dần những gương mặt mà tôi chưa được gặp, không thể biết. Nó muôn hình, vạn dạng, lúc tròn, lúc bẹt, méo mó không ra nhân dạng gì nữa.
Cái lý lịch của ông năm học thứ ba có dòng nhận xét của anh Mười Công an khu vực: “Gia đình của đương sự có nghi vấn chính trị”. Phiếu nhận xét của Công an thành phố mang số 7223 VPS/S  và 2738 VPS/S  có in sẵn chữ Mật và những dòng ghi chú bên dưới “Tài liệu này lưu trữ ở hồ sơ tổ chức, bảo vệ. Nội dung nhận xét tuyệt đối không được cho đương sự biết, không được trao tay cho đương sự khi chuyển đổi nơi làm việc, không được cho người không có trách nhiệm mượn xem, không được để thất lạc. Khi không dùng phiếu này, yêu cầu trả lại cho cơ quan Công an...” thì nhận xét gia đình ông như một gia đình thổ phỉ “Trước cách mạng có làm cho Tây!” được nhận xét rạch ròi tỷ mỷ và rất ác ý.  Phần công tác cho VM sau Cách mạng chỉ có một dòng viết thêm.
Đã mất một thời gian dài tôi không làm sao hiểu được, vì suốt hơn mười năm chung sống, ông chưa bao giờ kể với tôi một lời về thân phận mình. Cái mà tôi không thể hiểu được là một gia đình như gia đình ông, bố mẹ và anh ruột đều tham gia cách mạng, đều được nhà nước cấp Huân, Huy chương và công nhận anh ông là liệt sỹ, ông cũng tham gia lao động từ trẻ, các chị đều lao động nghèo khổ mà lại bị Công an địa phương và thành phố nhận xét như vậy. Mãi đến khi thật tĩnh tâm và ghép nối mọi mảnh nhỏ cuộc đời ông lại, tôi mới vỡ lẽ đó chính là kết quả lời từ chối của chàng sinh viên mỹ thuật năm thứ ba với anh Công an khu vực về bức chân dung mà anh ta nhờ vẽ. Bởi mỗi năm mọi sinh viên đều phải khai lại một lần lý lịch, rồi bằng con đường riêng nhà trường gửi về địa phương xác nhận và số phận ông được định đoạt từ đấy.
Chẳng hiểu làm sao ông lại có cả mớ tài liệu này trong tay, ông giữ gìn rất cẩn thận như cố ý gửi lại cho người sau một lời nhắn nhủ thầm thì.
Bỗng nhiên tôi lại tin là mỗi con người đều có một ngôi sao chiếu mệnh, ngôi sao chiếu mệnh của ông đã bị cả một đám mây đen to lớn che lấp, chỉ đến khi ngôi sao đó rớt xuống nó mới vạch một vệt sáng quắc trên nền trời.
Cả đời ông chưa bao giờ được hưởng sự công bằng còn nói chi đến hạnh phúc. Và thật trớ trêu - Tôi, người bạn đời bé nhỏ của ông, mới cùng ông đi một quãng ngắn trên con đường gập ghềnh ấy lại được hưởng trọn vẹn cái tài năng to lớn mà chỉ khi có một trái tim nhân hậu và một bản lĩnh phi thường mới tạo nổi.
Tôi giữ lại một số chân dung ông vẽ người quen, bạn bè ông và nhiều nhất là vẽ về tôi. Lớn nhất vẫn là bức chân dung chị ruột mà ông vẽ lúc bà còn trẻ, người đàn bà nghèo - Chị ông - hiện lên khung tranh đẹp như một Đức Bà vừa giản dị, vừa kiêu sa.
Tôi bày bức chân dung của bà trong phòng khách sang trọng của tôi và đã có lần một người Pháp nói với tôi là ông ta rất thích bức chân dung đó và đã trả tôi mấy chục ngàn Đô-la Mỹ để mua. Nhưng tôi đã nói với ông ta rằng:
- Tôi không thể bán bức tranh này được, vì nó là một bộ phận không thể thiếu để nói về cuộc đời một người mà tôi yêu quý nhất - Chồng tôi.
Bên cạnh bức chân dung tuyệt đẹp mà ông vẽ chị ông, tôi cứ luôn hình dung ra một chân dung khác, đó là một khuôn mặt tôi chưa hề gặp, chưa hề biết, thế mà cứ hiển hiện một cách rất rõ nét trước mắt tôi - Một cái trán thấp, một cặp mắt đầy lòng trắng và một cặp môi dày xám xịt.
Tôi ao ước biết bao, nếu như hồi ấy ông cứ vẽ chân dung anh ta, thì biết đâu chẳng có lúc tôi được nhìn thấy nó. 

                                                       Hà Nội, 1994.  


Liên hệ:      DĐ: 0915140055

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét