Được tin ông bạn thân sắp mất, tôi vội vàng đến để cùng gia đình ông lo hậu
sự.
Chơi với nhau từ lúc còn học tiểu học, dễ có đến sáu, bảy chục năm nên rất
hiểu và thân nhau như ruột thịt, chẳng biết có phải duyên số hay không mà chúng
tôi cứ dính với nhau như đôi sam vậy.
Quá nửa cuộc đời chúng tôi là sống trong thời kỳ bao cấp, thời kỳ của tem
phiếu và xếp hàng.
Vào những năm 1980 trở về trước; dù được học hành trong nước, hay đào tạo
tận nước ngoài cũng đều phải lấy con đường vào biên chế nhà nước làm mục tiêu
phấn đấu cho đời mình. Ai sống và làm việc bên ngoài, mọi người thường gọi là
dân tự do thì từ gia đình đến xã hội đều coi là chưa chuẩn mực. Dù có làm việc
ra sao, đóng góp thế nào cũng chỉ được coi là tạm bợ, không thể xem là nghiêm
túc được!
Tôi thì sống thường thường như bao người khác, chẳng có gì thái quá, có ưu,
có khuyết, có người yêu, có kẻ ghét, nên gia đình cũng bình bình như các gia
đình khác. Người ta có gì thì mình cũng cố phấn đấu để “bằng chị, bằng em”. Có
hơn kém nhau cũng chỉ hơn kém tí chút, không
đáng kể.
Ông bạn tôi thì không như thế. Cứ “gióng thẳng mực tàu”. Nghĩ thế nào nói
thế ấy, thích sao là làm vậy, không ai cản được.
Lúc mới ra trường, khi ấy ông ấy còn trẻ, có một lần ông trưởng phòng kiêm
bí thư chi bộ nơi ông làm việc; người đang theo dõi giúp đỡ ông phấn đấu vào
Đảng, “được” ông “góp ý rất chân thành” trong một buổi họp:
- “Anh Gị là trưởng phòng, lại là bí thư chi bộ, người đang giúp đỡ tôi
phấn dấu vào Đảng, mà lần nào gặp, anh cũng bắt tay rất chặt, rồi hỏi tôi một
câu: - “Chị với cháu có khỏe không?”. Đã gần chục lần tôi nói với anh: - “Thưa,
tôi chưa có vợ!”. Nhưng lần sau gặp, anh vẫn hỏi câu ấy!?”
Khi nghe được chuyện này, tôi đã vội đến gặp để nói cho ông biết là góp ý
với lãnh đạo như thế có khác gì chọi đầu vào đá, là “rấp mất lối tiến thân” của
mình”!
Quả nhiên “nhân bảo như thần bảo”. Mặc dù rất giỏi chuyên môn, việc gì cũng
làm tốt, được phân công thì chỗ nào cũng đi. Nhưng sau mười bảy năm sinh hoạt
đối tượng Đảng mà vẫn không được kết nạp. Chưa hề phạm khuyết điểm gì mà lương
thì bao giờ cũng kéo dài gấp rưỡi, gấp đôi người khác. Phấn đấu cả đời, lúc hưu
trí mới leo lên được chức Tổ trưởng chuyên môn.
***
Khu tập thể Dốc Trạm Mười Cầu Giấy nằm cạnh khu tập thể trường đại học Giao
thông Hà Nội, gồm năm, sáu cơ quan đầu não của bộ, ngang bộ, trực thuộc bộ.
Phải có đến mấy nghìn con người gồm toàn trí thức, chuyên gia đầu ngành, tá
túc trong hàng chục dãy nhà cấp bốn của các cơ quan quản lí họ.
Tuy vậy được vào ở trong khu nhà ổ chuột đã sập sệ này cũng không hề đơn
giản chút nào. Hai vợ chồng phải cùng là cán bộ công nhân viên trong biên chế
nhà nước. Nếu chỉ một người trong biên chế, còn người kia ở ngoài thì khó khăn
lắm lắm. Trường hợp đó phải là cán bộ cao cấp hay chí ít cũng phải là chủ chốt
trong bộ máy nhà nước.
Cả khu có đến ba, bốn chục dãy mười gian nhà cấp bốn, vách tooc-xi(1) lợp
ngói. Mỗi gia đình có từ hai đến ba con thì được phân một gian mười mét vuông.
Bếp tự lo, đun bằng gì, nấu ở đâu, không ai “có quyền can dự” đến!
Xí, đái, tắm? - Đã có công cộng!
Mấy nghìn con người ở đây có vài cái bể chứa nước mỗi cái khoảng chục khối,
mà suốt năm không lúc nào có thể múc bằng gầu được. Muốn có nước, phải cho một
người rửa chân sạch sẽ chui vào lấy bát vét trong cái rốn bể mới có ít nước
dùng!
Ngay việc được chui vào bể cũng phải được phân chia trật tự, nghiêm túc,
nếu không “sẽ nổ ra chiến tranh” lập tức!
Bên cạnh mỗi cái bể không mấy khi có nước ấy; người ta đào một cái hố tròn
đường kính cỡ năm, sáu chục cen-ti-mét, sâu cũng chừng ấy đón đúng đường ống
cấp nước nhỏ xíu bằng kẽm đã được uốn gập xuống để hứng nước. Từ nửa đêm về
sáng, nước trong ống mới chảy ra, dòng chỉ nhỏ bằng cái xe điếu, hứng một thùng
chục lít phải đợi chừng hai mươi phút đồng hồ.
Vì là khu tập thể đông đúc, nên người ta cũng cho xây một dãy hố xí hai
ngăn, mà cánh cửa đã bị “bốc hơi” tự bao giờ! Cũng may là chúng lại quay mặt ra
phía cánh đồng hoang. Dãy nhà vệ sinh tuy đã nằm khá xa khu nhà ở, lại nằm phía
cuối gió mà mùi hôi thối vẫn bốc lên nồng nặc! Ai không nhịn được, buộc phải
“đi”; thì xin hãy chuần bị sẵn một tờ báo. Đến nơi, nín thở, tung tờ báo rải
lên trên đống phân ngồn ngộn, nhắm mắt, tụt quần quay mông vào rặn mạnh một
cái, rồi bước vội ra ngoài mà về không dám quay đầu nhìn lại nữa! Tay nào vô
phúc bị táo bón, sau khi ngồi mươi phút, mà không ngất, còn về được thì phải sợ
đến nửa tháng, không dám “tơ tưởng” đến cái “chốn ấy” nữa. Chính vì thế mọi
người ở trong khu này đều cố “rèn luyện” để “đi” trong “tám giờ vàng ngọc”; tức
là “ỉa” ở cơ quan! Vì ở đấy còn có lao công quét dọn và cũng không đến nỗi
“kinh-khủng-khiếp” như ở khu tập thể này!
***
Bạn tôi sinh ra ở Hải Phòng vào những năm Nhật-Pháp đánh nhau.
Thật không may là ông lại đẻ ngược! Chuyện đẻ ngược thì thiên hạ đầy! Nhưng
nó lại xảy ra đúng lúc mà mọi thứ chung quanh cứ “lộn tùng phèo” lên tất cả.
Các cụ kể lại, người “đón” ông chào đời là một “cô đỡ” có quen với gia
đình, nhưng cô ta chưa được “học và được hành nghề đỡ đẻ” bao giờ. Vì thế ông
là đứa trẻ đầu tiên và cũng là đứa cuối cùng cô ta “đỡ”.
Loay hoay mãi vẫn không sao “đón” được thai nhi ra ngoài, khi thấy cái thai
sắp chết ngạt, cuống lên cô ta mới cầm hai chân lôi thốc ra, thế là đứa bé có
hai tay thì trật khớp cả hai.
Mấy tháng sau may có ông bác ruột ở Nam Định ra chơi, bế cháu lên thấy hai
tay nó cứ ặt ra, mới biết là cháu bị què. Bố mẹ ông cuống lên nhưng cũng chỉ
chạy quanh, chạy quẩn. Đưa con lên tận nhà thương Nhi Hà Nội, thì nhà thương
vừa bị bom Mỹ phá sập. Tìm được ông
lang chạy chữa, đang nắn bó nửa chừng, ông lang cũng bị bom chết nốt.
Không còn chỗ nào để bấu víu, đành tin vào “số phận” vậy. Thày bói bảo số
ông không què cũng chột, không thì chẳng được làm người! Hóa ra què vẫn là tốt
số nhất!
Lớn lên may cho ông là chỉ què có một tay, vẫn còn một tay để kiếm sống!
Thế là vất vả từ lúc mới sinh. Lớn lên trong nghèo khổ. Để tồn tại,
không có nghề gì là ông không trải qua, không có việc gì là ông không làm tới.
Sáu tuổi
bị lạc gia đình, xa cha mẹ, lang thang bán kem, bán báo. Hơn mười tuổi mới được
học vỡ lòng. Mười bảy, mười tám tuổi phải đi đẩy xe than để kiếm sống, đến năm
ba, năm tư tuổi về hưu vẫn phải ra đầu đường bơm vá xe đạp.
Sống trong
chật vật, thiếu thốn đủ bề mà khổ một nỗi ông lại không quan tâm đến vật chất cho
lắm. Không “cố tìm đường cứu nước, cứu nhà” như những “vĩ nhân” thường vẫn làm
như vậy!
Với ông
thì: “Cứ có ăn là được! Ngon thì ăn nhiều, không ngon thì ăn ít!”
Bốn mươi
năm làm cho nhà nước, lúc về hưu ông được sở hữu có độc chiếc xe đạp Thống Nhất
mà cơ quan phân phối cho từ ba chục năm trước. Nó gỉ giún, thảm hại. Bà vợ ông
bảo bán đi mấy lần mà ông cứ ừ hữ, lần khân mãi. Thế là lừa lúc ông đi vắng, ở
nhà bán tống đi. Về thấy vậy, ông không nói, không rằng mấy ngày liền.
Bà an ủi
mãi, ông mới thổ lộ:
- Nó như
một người bạn trung thành đã cùng tôi đồng hành trên mọi nẻo đường, qua bao năm
tháng. Không có nó, không biết có vượt được những khó khăn mà mình đã gặp
phải!? Mất nó tôi như mất một người thân.
Cái “nguy
hại” lớn nhất trong đời là ông chẳng chịu “thần phục” một ai, không theo gót
một ai cả, thích thì chơi, thì quan hệ, không thích có nhử kẹo cũng không màng.
Việc gì
cũng cứ tự suy nghĩ và rồi làm cho bằng được!
Trong cơ
quan, việc nào khó, thì người ta phân cho ông, thậm chí có việc nằm ngoài cả
chuyên môn được đào tạo. Chỗ nào nguy hiểm, thì ông được cử đến.
Thời kì
bắn phá ác liệt ở Khu Tư khoảng 1964-1965; một mình một ba-lô, một tờ công
lệnh(2), mấy cân tem gạo với ít tiền lương tạm ứng đi từ Hà Nội đến Quảng Bình
để vừa thiết kế, vừa thi công loại cầu tạm, chỉ cần thông xe có một đêm.
Không tàu,
không xe, tự thân vận động cỡ nửa tháng mới tới được nơi công tác.
Bốn, năm
lần ông bị máy bay bắn mà không chết. Vì vậy ông hay nói tếu:
- Loại
“trời đánh không chết” như tớ, thì đứa nào còn “thèm giây” vào nữa!
Hết một
đợt công tác cỡ sáu, bảy tháng; ông về cơ quan để báo cáo kết quả làm việc, rồi
nhận mấy lời khen ngợi, đại để như:
- “Cử mình
đồng chí đi công tác chúng tôi yên tâm hơn cử năm, sáu kĩ sư khác”!
Nhưng có
cái lạ là lương bổng của ông thì những người làm lãnh đạo cơ quan đến là hay
quên!
Có người
thấy thế thông cảm, phàn nàn hộ, ông chỉ cười rồi nói:
- Người cử
mình đi công tác là bên chuyên môn, còn xét nâng lương lại là bên lao động tiền
lương. Họ có quan hệ gì với nhau đâu mà biết!
Vài người
tốt bảo ông đến gặp lãnh đạo mà bày tỏ, ông chỉ cười gãi đầu không nói, mà rồi
cũng không “dám” đến!
***
Hồi ông
mới trên bốn mươi tuổi, đó là những năm 1980 của thế kỉ trước. Khi mà cả đất
nước chìm trong khủng hoảng của suy thoái. Không có vốn để xây dựng, mọi ngành
kinh tế đều thoi thóp, Cán bộ của cơ quan cũng đến để ngồi chơi, xơi nước điểm
danh là chính. Lương tháng chỉ đủ mua yến gạo. Ông bị cơ quan cho ra ngồi đầu
hè để kiếm kế sinh nhai. Ông đã ngồi chữa xe đạp, xe máy lại phải nuôi thêm
bảy, tám nhân viên hành chính nữa. Lúc bấy giờ, nuôi được cái thân mình đã là
khó, thế mà chẳng hiểu sao ông vẫn cưu mang anh em qua được giai đoạn kinh
khủng ấy!
Kiếm sống
bên lề đường, ông đã gặp nhiều cảnh trớ trêu, tưởng như chỉ xẩy ra trong những
câu chuyện hài hước!
Hôm ấy có
một đôi trai gái trẻ đèo nhau đến bằng xe đạp, cả hai vẫn ngồi trên xe, chàng
trai chỉ tay vào lốp sau xe nói chỏng lỏn:
- Bơm!
Ông lúi
húi vặn van xe và bơm bằng cái bơm dận. Xong việc chàng trai móc túi quần sau lấy ra đồng
bạc chìa vào mặt ông, không nói câu nào.
Ông cầm
tiền, cầm bơm rồi cám ơn.
Có một
người đang ngồi uống nước gần đó biết ông, bất bình chạy lại nói:
- Tại sao
bác lại như vây, với cái loại vô giáo dục vừa rồi, phải tay cháu, cháu đã phang
cả cái bơm vào mặt chúng nó! Đằng này bác lại còn cám ơn nữa chứ!
- Ấy chết!
Đã ngồi kiếm ăn ở đầu đường còn nóng nảy đánh khách thì ai còn dám đến hàng
nữa! Mà anh thấy đấy, người ta cười là cười họ, chứ có ai chê tôi đâu!
Lại có lần
sau khi thay thế phụ tùng và sửa một cái xe mô-tô mất nửa ngày trời, sau khi
xong việc ông xin khách thanh toán. Người chủ xe là một thanh niên trọc đầu,
khỏe mạnh, trạc trên, dưới ba mươi tuổi vênh mặt lên hỏi:
- Này, lão
có biết tao là ai không mà dám đòi tiền chữa xe!?
- Dạ, tôi
không biết!
- Nghe đây
và hãy nhớ lấy! Tao là Công Trọc! Cả vùng này không ai là không biết tao! Đáng
lẽ lão phải xơi một trận đòn cho nhớ. Song vì lão đã già, lại quá ngu không
biết ai với ai; nên lần này tao tha! Nhưng lần sau thì không tránh khỏi đòn
đâu!
Lúc người
khách dữ dằn ấy đi rồi; có người biết, nói cho ông hay đó là chủ lò thuốc phiện
lớn nhất khu này. Anh ta có rất nhiều tiền và tất nhiên là có nhiều thế lực,
không biết sợ một ai, kiêng một ai cả. Bực là đánh, là chửi ngay!
- Kể cả
công an?
- Cũng
vậy!
- Thế đồn
công an ở đây có biết anh ta là chủ lò thuốc phiện không?
- Làm gì
họ chả biết! Dân thường như chúng tôi cũng còn biết nữa là!
- Biết sao
lại không cho dẹp đi?
- Bác bảo
dẹp cái gì cơ?
- Dẹp cái
lò thuốc phiện! Tôi nghe trên đài, báo họ chả nói ra rả là tàng trữ, tổ chức
mua bán, sử dụng thuốc phiện là phạm pháp! Dân đóng thuế nuôi công an, tại sao
họ lại không dẹp tội phạm cho dân nhờ?
- Lương
của công an có bằng một phần mười tiền mà bọn tội phạm “lót tay” nuôi họ không?
- Nhưng đã
là công an, thì phải bắt tội phạm chứ!
- Đấy là trên lí thuyết! Thực tế thì không phải vậy!
- Các bác nói thế nào, chứ ai mà tin được?!
Mọi người xì xào:
- “Chuyện đơn giản thế mà cũng còn không biết, không hiểu! Lão già này chắc
chập cheng nặng!”
Cuộc đời đã sinh ra, đã “nhào nặn” ông thành một “typ”(3) người như vậy.
***
Giờ đã về hưu rồi, trợ cấp hưu trí lại quá ít; dè xẻn cũng chỉ đủ rau cháo
qua ngày. Như người ta, thì dành thời gian tìm việc gì đấy mà làm, hòng cải
thiện thêm cho bữa ăn đạm bạc.
Ông bạn tôi, chẳng hiểu sao lại đam mê và lao vào cái việc mà chỉ những
người ở giới thượng lưu, thừa ăn, thừa chơi mới làm: đó là viết văn!
Có người gàn, thì ông nói:
- “Ở đời mỗi người đam mê một thứ. Viết cũng chỉ là một cuộc chơi. Tôi đam
mê nó. Viết không tốn kém gì nhiều, chỉ tổn hao chút ít sinh lực và tâm trí!
Sinh lực và tâm trí của một lão già đã ngoài bảy chục tuổi, cập kề miệng lỗ như
tôi thì dùng được vào việc gì nữa mà còn phải tằn tiện, còn phải giữ gìn?!”
Ông cũng biết viết là một công việc khó khăn, cực nhọc lại không kiếm ra
tiền.
Vô phúc lúc viết lại “ngứa nọc” động chạm đến cái này, cái nọ, thì tai vạ
sẽ ập xuống đầu là điều không tránh được!
Vợ ông không cản được, lắm lúc bực quá, cũng cằn nhằn:
- “Thử xem cả bàn dân thiên hạ có ai điên điên, khùng khùng như ông không?
Thời buổi “gạo châu, củi quế” lo ăn, lo mặc hằng ngày đã toát cả mồ hôi hột;
ông không tìm được việc gì làm có ích hơn là ngồi viết văn ư?”
Lại có người tốt bụng bày cho ông cách: “đã muốn viết thì phải lách”. Khôn
khéo và may mắn ra cũng kiếm được chút ít! Còn muốn leo lên đầu, lên cổ người
khác thì cứ nhắm mắt mà ca ngợi hết lời mấy ông bà cầm quyền! Tác phẩm viết ra
nhất định sẽ được bao tiêu trọn gói! Lời là cái chắc!
Nhưng con người như ông thì thật khó mà “cải hóa” được!
Người Tàu thường hay nói câu: “Giang sơn dễ đổi, bản tính khó dời” chẳng đã
được chiêm nghiệm qua bao nhiêu đời rồi đó ư?
Đời thưở nhà ai lại xót xa và lưu luyến cái xe đạp cũ; chứ không chịu “tiếp
thu” mấy “lời vàng, ý ngọc” trên, để tình nguyện làm “bồi bút” cho đời!
Bạn bè thương, có nhắc nhở vài lần, thấy không chuyển, chán rồi mặc kệ.
Cuộc sống ai cũng còn có việc phải làm!
***
Cứ như vậy ông bạn tôi cố kéo thêm “cái ách văn chương” một số năm nữa, lúc
không cầm nổi bút nữa mà vẫn không muốn nghỉ! Bữa chửa hết lưng cơm, mà cứ
gượng dậy được, là lại hí hoáy viết.
Rồi một hôm quị hẳn, ông chỉ còn như cái xác ướp trên giường.
Ngồi trong căn phòng nhỏ và trống trải, bà vợ ông đôi mắt đỏ hoe, nghẹn
ngào nói với tôi:
- Bác ạ, thật tội nghiệp cho ông nhà tôi! Cả đời chẳng lúc nào được an
nhàn, chẳng lúc nào có hạnh phúc. Từ trẻ đến lúc lìa đời chưa bao giờ có đồng
giắt túi. Tôi cũng bất tài vô dụng; chỉ trông vào mấy đồng lương hưu quá ít ỏi,
nên không chăm sóc tốt hơn cho ông ấy được! Ông ấy ra đi thế này, tôi xót xa,
đau đớn lắm!
- Bác nghĩ vậy là chưa hết! Tôi an ủi. - Bác giai năm nay cũng đã trên chín
mươi, thế là thọ rồi. Ai chẳng phải chết, quy luật tất yếu mà. Nếu có thuốc
trường sinh thì bọn sâu mọt, ăn trên, ngồi trốc cũng tranh giành hết, đâu đến
lượt chúng ta!
Bác giai mất đi là một mất mát lớn đối với gia đình và bạn bè, biết làm sao
được! Nhưng tôi xin nói để bác biết trong số anh em bạn bè quen biết với nhau
từ lâu, thì tôi thấy không ai được hạnh phúc như bác ấy!
Tiền bạc thì
bác ấy không dư dả như người khác! Nhưng có ai giàu có bằng bác ấy, tôi tự hào
là được làm bạn với bác ấy. Ông bạn già của tôi là người không coi trọng của
cải, vật chất, là người đứng trên đầu bọn người thường chúng tôi.
- Sao bác lại nghĩ như vậy? Gần chết còn phải ngồi chữa xe đạp ở đầu đường. Ngay học trò ông ấy có người chức vụ cũng cao chót vót, tiền tiêu không phải đếm!
- Sao bác lại nghĩ như vậy? Gần chết còn phải ngồi chữa xe đạp ở đầu đường. Ngay học trò ông ấy có người chức vụ cũng cao chót vót, tiền tiêu không phải đếm!
- Tôi biết chứ! Tôi chẳng chơi với bác ấy từ lúc còn “để chỏm” hay sao?!
Nhưng thử hỏi trong tất cả lũ chúng tôi, kể cả những người “thành đạt”,
tiền tiêu không cần đếm, như bác vừa nhắc đến, đã có ai dám sống đúng là mình
chưa? Đã có ai dám nói thật những điều mình nghĩ chưa? Đặc biệt là có ai đã dám
làm và được làm những việc mà mình yêu thích chưa? Không mấy ai!
- Bác ạ, tôi vẫn cứ áy náy là cách đây ít lâu có người bảo tôi mua một cái
máy tính rẻ tiền để ông ấy viết cho đỡ vất vả, thế mà tôi cũng loay hoay mãi
vẫn không sao mua được!
Tôi không biết nói gì với bà ấy nữa, tôi hiểu rằng ngoài cái vẻ bề ngoài
chao chát bà ấy hay lộ ra do cuộc sống quá vất vả, thì ẩn sâu bên trong vẫn là
lòng thương yêu chồng con hết mực mà chỉ những người phụ nữ phương Đông mới có
được.
(1)
Tooc-xi: Torchis: tiếng Pháp: Vách đất nhồi rơm
(2) Công lệnh: giấy đi đường cơ quan cấp
(3) Typ: (type): dạng, loại, kiểu (tiếng Anh, tiếng Pháp)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét