Đã sang đông từ lâu, mưa phùn giăng đầy
trời. Đêm đã khuya. Hồ Gươm đang ngủ. Dăm chiếc ghế đá nép mình dưới cánh tay cằn
cỗi của những cây xà cừ lực lưỡng, đây đó vài mành liễu rủ, đung đưa như mái
tóc của một nàng thiếu nữ vừa gội đầu đang hong trong gió cho khô. Tất cả đều
mơ màng, mặt nước cũng như tỏ, như mờ. Xa xa Tháp Rùa ẩn hiện sau ánh đèn của
một vài chiếc xe chạy vội trong đêm. Những chiếc cầu vồng nhỏ xíu hắt sáng trên
mặt đường loáng nước, thoáng hiện rồi vỡ tan trong không gian theo bụi nước
cuốn vội sau những bánh xe quay.
Linh đưa tay day đi, day lại nơi thái
dương mình. Rõ ràng anh vẫn tỉnh, nhưng sao lại như thế được. Anh không còn tin
vào mắt mình nữa. Anh móc khăn ra lau mắt, lau lại cặp kính đang đeo và cái
trán đẫm mồ hôi.
Anh nhìn theo bóng bà lão đội nón mê đi
khuất sau hàng cây đằng xa, tay chống gậy run rẩy trong mưa.
Mẹ ơi, có lẽ nào lại như thế. Linh quay
ngoắt lại nhìn xuống hồ, nơi anh vừa quẳng vội bọc xương cháy nham nhở của mẹ
anh xuống đó. Những sóng nước vẫn còn lan toả chưa thôi, những đốm sáng lung
linh vẫn còn nhấp nháy. Anh còn nhớ rõ sau khi đã quan sát chung quanh rất kỹ
càng, vì anh cũng hiểu rằng không được phép vất bất kỳ vật gì xuống hồ. Thế mà
khi thấy không có ai, anh vừa thảy nhẹ bọc xương xuống nước thì bỗng một giọng
nói yếu ớt cất lên ngay sau lưng anh:
- Tôi là một người nghèo khổ, không nơi
nương tựa, lỡ độ đường. Xin ông bố thí ít tiền để tìm đường về quê quán.
Linh giật mình quay ngoắt lại nhìn trừng
trừng vào cái bóng, thảng thốt hỏi:
- Quê bà ở đâu?
- Tôi ở Phù Long Nam Định! Cái bóng trả
lời.
Đó chính là quê mẹ Linh. Anh xọc tay vào
túi móc nốt mấy đồng tiền còn lại đưa cho bà lão thì những đồng tiền mềm nhũn
bỗng tuột khỏi tay anh lượn lờ bay lên rồi là xuống mặt hồ trên những vòng tròn
của sóng nước. Linh chăm chú nhìn và thật lạ mấy đồng tiền không chìm mà lại
dập dềnh trên sóng, rồi chúng co lại bốc lửa cháy thành những quầng sáng lung
linh.
Anh quay lại thì bà lão đã lặng lẽ, run
rẩy bước đi. Linh nhận ra trong thảng thốt đó chính là mẹ mình, bà lão chết
cách đây đã hơn ba năm.
Anh muốn gọi mẹ mà cổ họng đắng nghẹt
không thể nào thốt thành lời, ngoài tiếng khò khè như của một con chó bị bóp
cổ.
Linh còn nhớ rằng sáng nay sau khi nhận
ít tiền từ tay vợ để thuê người đốt nắm xương rồi chôn nắm tro hài cốt của bà
cụ mẹ anh xuống đâu đó. Cầm tiền anh biết chẳng thể nào đủ để làm ngần ấy việc.
Chán nản anh vào quán tợp dăm chén rượu rồi buộc nắm xương sau xe, đạp xuống
tay quản lý kho xăng của đơn vị xin một ít, nhưng thật rủi ro khi xuống tới nơi
Linh mới nhớ ra hôm nay là ngày nghỉ. Anh đành vòng xe ra ngoài đường, chợt anh
thấy dưới gốc cây một người thợ sửa xe đạp đang đốt bàn vá để vá chiếc săm
thủng. Và rồi anh mua lại của ông ta ít dầu thải, vài chiếc lốp xe hỏng. Anh
mang tất cả các thứ lỉnh kỉnh đó chất đốt ở một mô đất ven đường. Nhưng khi
chút dầu thải và vài cái lốp cháy hết, thì đống xương của mẹ anh chỉ cháy được
hơn một nửa, đen thui, gãy nát, nham nhở.
Linh thở dài gom đống xương tàn lộn sộn
đó vào một mảnh áo mưa mà đơn vị phát cho anh để đi công tác, rồi đứng dậy lẩm
bẩm một mình:
- Đằng nào thì mẹ cũng chết rồi, có làm
tốn kém nữa thì mẹ cũng chẳng được hưởng. Thôi xin mẹ hãy thông cảm mà tha thứ
cho con.
Đột nhiên anh thấy lòng mình chùng xuống,
mấy giọt nước mắt trong vắt ứa ra nơi khoé mắt, anh thấy như mẹ anh hiện về
đứng nhìn anh rầu rầu. Mẹ anh, một người đàn bà hiền lành đến đần độn, lấy
chồng lúc mới 17 tuổi và chỉ sinh hạ được có mình anh. Cái gia đình ấy sẽ hạnh
phúc biết bao nếu như bố anh không chết. Bố anh là một nhà kinh doanh trẻ táo
bạo và có nhiều mánh lới, mới ba chục tuổi đầu đã có một gia sản lớn trong tay.
Gia đình giàu có, từ bé anh được sống trong nhung lụa, hơn mười tuổi còn có
người cõng đi chơi, lúc mười ba đã cùng bạn bè kéo ra quán đập phá rồi ghi sổ.
Song trời chẳng chiều người, đùng một cái
bố anh lăn ra chết. Người ta đến bắt nợ, dắt từ con chó béc-giê, bê cả cái
chạn bát.
Đang từ đỉnh cao
bỗng nhiên bị hắt toẹt xuống đáy vũng bùn cuộc đời. Người thiếu phụ trẻ chỉ còn
biết khóc và dùng tất cả những lời lẽ tốt đẹp nhất để nói về người chồng xấu số
và hết lòng chiều chuộng cậu con trai duy nhất của mình. Bà đi ở để nuôi cậu
con tuy đã khôn lớn và to khoẻ, nhưng chưa biết làm một việc gì dù chỉ là đóng
một cái đinh.
Nhưng ông trời nào
đóng cửa ai, mẹ anh ở giúp việc cho một ông cán bộ cao cấp quân đội có quen
biết sơ sơ chồng bà. Thế là mẹ thì có việc làm, con được tuyển vào bộ đội.
Đi bộ đội từ năm
13-14 tuổi tới lúc về già, ít ai có được thâm niên trong quân ngũ như anh ta và
nếu là một người nào khác, chắc sẽ phải trở thành một con người từng trải và
mẫu mực.
Số anh phải tốt lắm
nên vào bộ đội anh lại được ở trong một đơn vị văn công. Do tài ăn nói sẵn có,
biết gảy đàn một chút, hát một chút, vẽ một chút, uống rượu giỏi và tán gái thì
hết chê. Anh được nâng đỡ và cứ thế ngoi dần lên. Khi chiến tranh kết thúc thì
Linh cũng đã luống tuổi, anh có tất cả các loại huân, huy chương mà người khác
có. Ai nói về địa danh nào anh cũng biết. Rồi anh xin chuyển ngành. Anh lấy vợ
và đón mẹ về để trông nom nhà cửa.
Và thật là có tội
khi lại nói về anh, nếu anh sống như những người khác, gia đình anh cũng như
gia đình người khác.
Lúc Linh lấy vợ, có
con và đón bà về để trông cháu thì mẹ anh đã gần bảy chục tuổi, cả đời ở vậy,
đi ở và mong con. Từ một bà chủ, thành một bà già giúp việc gày nhỏ, hiền lành,
chậm chạp. Bà cũng có thâm niên đi ở nhiều hơn bất kỳ người đi ở nào.
Tuy nhiên với ngần
ấy thứ vẫn không làm thành một gia đình khi mà nghề nghiệp không có, của cải
ngoài cái ba-lô bộ đội, cái giường cá nhân, và một chỗ ở nhờ là cái ga-ra bỏ
trống vỏn vẹn chỉ có 6 mét vuông, thì chẳng còn gì nữa. Linh cũng đã thử làm
một số nghề nhưng cuối cùng anh đành quay trở lại quân ngũ.
Cuộc sống đời thường
đã chẳng làm cho anh tỉnh ngộ, mà thoáng chốc lại thổi bùng lên nắm tro đã bị
vùi lấp từ lâu, nhưng chưa chịu tắt hẳn trong anh. Linh thèm khát những gì mà
anh đã được hưởng lúc bố anh còn sống. Anh nhớ rất rõ những thú vui vật chất đã
xa xôi, nhưng lại quên người đàn bà nhỏ bé và lam lũ trong nhà là người đã sinh
ra anh. Có lần anh theo đơn vị đi công tác bốn năm tháng, mặc dù lúc ấy anh đã
có tới bốn đứa con, anh cũng chẳng gửi về cho vợ con và bà mẹ già một đồng kẽm
nhỏ. Tiền kiếm được đã quẳng vào những cuộc vui thâu đêm, những trận cười suốt
sáng.
Về tới nhà anh trút
ra hàng đống quần áo, tất giày bẩn và bà mẹ già lưng đã còng lại càng còng thêm
trên đống đồ dơ bẩn ấy.
Anh say sưa nói về những kịch bản của anh mà
chẳng ai thèm xem tới, những ý đồ cải tổ vĩ đại viển vông, nhưng say sưa hơn cả
vẫn là nói về những bữa ăn thừa mứa, giò cắn ngập răng, rượu uống thả cửa, sờ
đùi, sờ ngực cô gái nào cũng được. Anh chìm ngập trong những hồi ức thấp hèn mà
quên rằng thùng gạo nhà anh đã hết, mẹ anh ốm đã lâu không có thuốc mà vẫn phải
làm lụng luôn tay. Cứ thế anh trượt dài trên cái rãnh mà định mệnh đã một lần
suýt tước bỏ đi của anh.
Ai nói động đến, anh
lập tức sửng cồ lên với những lý sự vừa có thật, vừa hoang đường:
- Tôi là một quân
nhân già đời, quen từ Bộ Trưởng trở xuống, còn cái gì không biết, còn cái gì
phải góp ý.
Khổ nỗi vợ anh cũng
lại là một người đàn bà vừa tham lam, vừa ngu tối, hý hửng với bất kỳ cái gì
chồng con mang về được, không kể nguồn gốc xấu tốt. Rồi cũng đã đến lúc anh phải về hưu với
cái hàm Trung tá. Anh cũng đã kịp có một cơ ngơi khang trang, nhà cửa rộng rãi,
đồ đạc đắt tiền. Quy luật tự nhiên cứ diễn biến tuần tự. Mẹ anh già rồi cũng
phải chết, nhưng bà đã chết trong đói rét và đã trút hơi thở cuối cùng trên
đường đi cấp cứu.
Linh tóc cũng đã muối tiêu, con cái anh
cũng đã lớn. Hai thằng con trai to cao, trắng trẻo, đã từng là niềm tự hào của
gia đình và dòng họ. Nhưng khổ nỗi chúng chẳng chịu học đã đành, lại chẳng chịu
làm bất kỳ một cái gì. Chúng lấy đồ đạc trong nhà đem bán để có tiền cờ bạc,
chơi gái và tiêm chích thuốc phiện. Chúng không gọi anh là bố như hồi còn bé
nữa, mà chỉ thân thiện với anh có vài ngày, đó là kỳ anh lĩnh lương hưu. Rồi
vào tù, ra tội, tội lỗi của chúng không còn nằm trong phạm vi gia đình, phố xóm
nữa. Chúng trộm cắp, cướp giật. Trong túi chúng lúc nào cũng có hung khí giết
người. Cuộc đời trắng trẻo của chúng đã bị bôi nhem nhuốc, như những vết xăm
đầy trên mình chúng.
Đầu tiên còn tiền, Linh chạy chỗ này, chỗ
nọ để xin cho con. Nhưng những vụ phạm tội cứ lập đi, lập lại đến chóng mặt và
đến khi trong nhà đã rỗng tuếch, các cơ quan trật tự, an ninh cứ thấy anh là
lảng tránh không muốn tiếp nữa và đến khi thực sự không còn tác dụng gì, thì
anh trở thành nạn nhân ngay chính trong căn nhà mình. Để lấy của bố vài ngàn
đồng đi chích sái, các con anh sẵn sàng đánh anh một trận thật khủng khiếp,
sưng mặt, vỡ mồm, hoặc dìm anh trong bể nước.
Thoáng chốc mẹ anh chết đã ba năm, nghĩa
trang báo để gia đình anh cải táng cho bà cụ, nhưng giờ đây lấy tiền đâu để mà
lo liệu.
Và rồi sự việc đã diễn ra như thế.
Người ta tìm thấy Linh nằm rũ như một nắm
giẻ bẩn bên gốc cây ven hồ. Anh được đưa vào bệnh viện cấp cứu. Vợ con anh
chẳng ai đến thăm anh cả, và cũng từ đó anh không nhớ rõ anh là ai, đi đâu, nói
gì, ăn gì nữa.
Hình ảnh bà lão lặng lẽ, run rẩy trong
đêm đông, mưa rét cứ luôn hiện về ám ảnh anh. Những lúc như vậy anh lại lần mò
ra ven hồ, nơi đã ném nắm xương nham nhở của mẹ xuống nước, rồi rùng mình lẩm
bẩm:
- Lạnh lắm, ở dưới đó lạnh lắm phải không
mẹ? Nước xoáy mạnh lắm phải không mẹ?
Ai cũng cho là Linh điên. Người điên cũng
có cái hay của họ, vì họ không còn ý thức được hoàn cảnh và cả bản thân mình
nữa. Nhưng còn Linh anh nào có điên được. Anh vẫn đủ tỉnh táo để đếm lương hưu
không thiếu một xu, dấu tiền đi để tiêu một mình, vẫn biết ăn cái gì ngon, uống
rượu nào thích và nhất là vẫn biết đau khi các con anh đánh. Khi nhớ lại những
việc đã trải qua, anh rất buồn nhưng tất cả đã muộn mất rồi, chẳng còn cơ hội
nào làm lại nữa.
Lắm lúc Linh muốn điên hẳn để quên đi
những dằn vặt, những ảo ảnh dai dẳng bám lấy anh như một lời nguyền khủng
khiếp.
Nhưng điên nào có dễ!
Hà
Nội, 1994.
Liên hệ: DĐ: 0915140055
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét