tháng 9 23, 2014

Ảo ảnh

Đã sang đông từ lâu, mưa phùn giăng đầy trời. Đêm đã khuya. Hồ Gươm đang ngủ. Dăm chiếc ghế đá nép mình dưới cánh tay cằn cỗi của những cây xà cừ lực lưỡng, đây đó vài mành liễu rủ, đung đưa như mái tóc của một nàng thiếu nữ vừa gội đầu đang hong trong gió cho khô. Tất cả đều mơ màng, mặt nước cũng như tỏ, như mờ. Xa xa Tháp Rùa ẩn hiện sau ánh đèn của một vài chiếc xe chạy vội trong đêm. Những chiếc cầu vồng nhỏ xíu hắt sáng trên mặt đường loáng nước, thoáng hiện rồi vỡ tan trong không gian theo bụi nước cuốn vội sau những bánh xe quay.
Linh đưa tay day đi, day lại nơi thái dương mình. Rõ ràng anh vẫn tỉnh, nhưng sao lại như thế được. Anh không còn tin vào mắt mình nữa. Anh móc khăn ra lau mắt, lau lại cặp kính đang đeo và cái trán đẫm mồ hôi.
Anh nhìn theo bóng bà lão đội nón mê đi khuất sau hàng cây đằng xa, tay chống gậy run rẩy trong mưa.
Mẹ ơi, có lẽ nào lại như thế. Linh quay ngoắt lại nhìn xuống hồ, nơi anh vừa quẳng vội bọc xương cháy nham nhở của mẹ anh xuống đó. Những sóng nước vẫn còn lan toả chưa thôi, những đốm sáng lung linh vẫn còn nhấp nháy. Anh còn nhớ rõ sau khi đã quan sát chung quanh rất kỹ càng, vì anh cũng hiểu rằng không được phép vất bất kỳ vật gì xuống hồ. Thế mà khi thấy không có ai, anh vừa thảy nhẹ bọc xương xuống nước thì bỗng một giọng nói yếu ớt cất lên ngay sau lưng anh:
- Tôi là một người nghèo khổ, không nơi nương tựa, lỡ độ đường. Xin ông bố thí ít tiền để tìm đường về quê quán.
Linh giật mình quay ngoắt lại nhìn trừng trừng vào cái bóng, thảng thốt hỏi:
- Quê bà ở đâu?
- Tôi ở Phù Long Nam Định! Cái bóng trả lời.
Đó chính là quê mẹ Linh. Anh xọc tay vào túi móc nốt mấy đồng tiền còn lại đưa cho bà lão thì những đồng tiền mềm nhũn bỗng tuột khỏi tay anh lượn lờ bay lên rồi là xuống mặt hồ trên những vòng tròn của sóng nước. Linh chăm chú nhìn và thật lạ mấy đồng tiền không chìm mà lại dập dềnh trên sóng, rồi chúng co lại bốc lửa cháy thành những quầng sáng lung linh.
Anh quay lại thì bà lão đã lặng lẽ, run rẩy bước đi. Linh nhận ra trong thảng thốt đó chính là mẹ mình, bà lão chết cách đây đã hơn ba năm.
Anh muốn gọi mẹ mà cổ họng đắng nghẹt không thể nào thốt thành lời, ngoài tiếng khò khè như của một con chó bị bóp cổ.
Linh còn nhớ rằng sáng nay sau khi nhận ít tiền từ tay vợ để thuê người đốt nắm xương rồi chôn nắm tro hài cốt của bà cụ mẹ anh xuống đâu đó. Cầm tiền anh biết chẳng thể nào đủ để làm ngần ấy việc. Chán nản anh vào quán tợp dăm chén rượu rồi buộc nắm xương sau xe, đạp xuống tay quản lý kho xăng của đơn vị xin một ít, nhưng thật rủi ro khi xuống tới nơi Linh mới nhớ ra hôm nay là ngày nghỉ. Anh đành vòng xe ra ngoài đường, chợt anh thấy dưới gốc cây một người thợ sửa xe đạp đang đốt bàn vá để vá chiếc săm thủng. Và rồi anh mua lại của ông ta ít dầu thải, vài chiếc lốp xe hỏng. Anh mang tất cả các thứ lỉnh kỉnh đó chất đốt ở một mô đất ven đường. Nhưng khi chút dầu thải và vài cái lốp cháy hết, thì đống xương của mẹ anh chỉ cháy được hơn một nửa, đen thui, gãy nát, nham nhở.
Linh thở dài gom đống xương tàn lộn sộn đó vào một mảnh áo mưa mà đơn vị phát cho anh để đi công tác, rồi đứng dậy lẩm bẩm một mình:
- Đằng nào thì mẹ cũng chết rồi, có làm tốn kém nữa thì mẹ cũng chẳng được hưởng. Thôi xin mẹ hãy thông cảm mà tha thứ cho con.
Đột nhiên anh thấy lòng mình chùng xuống, mấy giọt nước mắt trong vắt ứa ra nơi khoé mắt, anh thấy như mẹ anh hiện về đứng nhìn anh rầu rầu. Mẹ anh, một người đàn bà hiền lành đến đần độn, lấy chồng lúc mới 17 tuổi và chỉ sinh hạ được có mình anh. Cái gia đình ấy sẽ hạnh phúc biết bao nếu như bố anh không chết. Bố anh là một nhà kinh doanh trẻ táo bạo và có nhiều mánh lới, mới ba chục tuổi đầu đã có một gia sản lớn trong tay. Gia đình giàu có, từ bé anh được sống trong nhung lụa, hơn mười tuổi còn có người cõng đi chơi, lúc mười ba đã cùng bạn bè kéo ra quán đập phá rồi ghi sổ.
Song trời chẳng chiều người, đùng một cái bố anh lăn ra chết. Người ta đến bắt nợ, dắt từ con chó béc-giê, bê cả cái chạn bát.
Đang từ đỉnh cao bỗng nhiên bị hắt toẹt xuống đáy vũng bùn cuộc đời. Người thiếu phụ trẻ chỉ còn biết khóc và dùng tất cả những lời lẽ tốt đẹp nhất để nói về người chồng xấu số và hết lòng chiều chuộng cậu con trai duy nhất của mình. Bà đi ở để nuôi cậu con tuy đã khôn lớn và to khoẻ, nhưng chưa biết làm một việc gì dù chỉ là đóng một cái đinh.
Nhưng ông trời nào đóng cửa ai, mẹ anh ở giúp việc cho một ông cán bộ cao cấp quân đội có quen biết sơ sơ chồng bà. Thế là mẹ thì có việc làm, con được tuyển vào bộ đội.
Đi bộ đội từ năm 13-14 tuổi tới lúc về già, ít ai có được thâm niên trong quân ngũ như anh ta và nếu là một người nào khác, chắc sẽ phải trở thành một con người từng trải và mẫu mực.
Số anh phải tốt lắm nên vào bộ đội anh lại được ở trong một đơn vị văn công. Do tài ăn nói sẵn có, biết gảy đàn một chút, hát một chút, vẽ một chút, uống rượu giỏi và tán gái thì hết chê. Anh được nâng đỡ và cứ thế ngoi dần lên. Khi chiến tranh kết thúc thì Linh cũng đã luống tuổi, anh có tất cả các loại huân, huy chương mà người khác có. Ai nói về địa danh nào anh cũng biết. Rồi anh xin chuyển ngành. Anh lấy vợ và đón mẹ về để trông nom nhà cửa.
Và thật là có tội khi lại nói về anh, nếu anh sống như những người khác, gia đình anh cũng như gia đình người khác.
Lúc Linh lấy vợ, có con và đón bà về để trông cháu thì mẹ anh đã gần bảy chục tuổi, cả đời ở vậy, đi ở và mong con. Từ một bà chủ, thành một bà già giúp việc gày nhỏ, hiền lành, chậm chạp. Bà cũng có thâm niên đi ở nhiều hơn bất kỳ người đi ở nào.
Tuy nhiên với ngần ấy thứ vẫn không làm thành một gia đình khi mà nghề nghiệp không có, của cải ngoài cái ba-lô bộ đội, cái giường cá nhân, và một chỗ ở nhờ là cái ga-ra bỏ trống vỏn vẹn chỉ có 6 mét vuông, thì chẳng còn gì nữa. Linh cũng đã thử làm một số nghề nhưng cuối cùng anh đành quay trở lại quân ngũ.
Cuộc sống đời thường đã chẳng làm cho anh tỉnh ngộ, mà thoáng chốc lại thổi bùng lên nắm tro đã bị vùi lấp từ lâu, nhưng chưa chịu tắt hẳn trong anh. Linh thèm khát những gì mà anh đã được hưởng lúc bố anh còn sống. Anh nhớ rất rõ những thú vui vật chất đã xa xôi, nhưng lại quên người đàn bà nhỏ bé và lam lũ trong nhà là người đã sinh ra anh. Có lần anh theo đơn vị đi công tác bốn năm tháng, mặc dù lúc ấy anh đã có tới bốn đứa con, anh cũng chẳng gửi về cho vợ con và bà mẹ già một đồng kẽm nhỏ. Tiền kiếm được đã quẳng vào những cuộc vui thâu đêm, những trận cười suốt sáng.
Về tới nhà anh trút ra hàng đống quần áo, tất giày bẩn và bà mẹ già lưng đã còng lại càng còng thêm trên đống đồ dơ bẩn ấy.
  Anh say sưa nói về những kịch bản của anh mà chẳng ai thèm xem tới, những ý đồ cải tổ vĩ đại viển vông, nhưng say sưa hơn cả vẫn là nói về những bữa ăn thừa mứa, giò cắn ngập răng, rượu uống thả cửa, sờ đùi, sờ ngực cô gái nào cũng được. Anh chìm ngập trong những hồi ức thấp hèn mà quên rằng thùng gạo nhà anh đã hết, mẹ anh ốm đã lâu không có thuốc mà vẫn phải làm lụng luôn tay. Cứ thế anh trượt dài trên cái rãnh mà định mệnh đã một lần suýt tước bỏ đi của anh.
Ai nói động đến, anh lập tức sửng cồ lên với những lý sự vừa có thật, vừa hoang đường:
- Tôi là một quân nhân già đời, quen từ Bộ Trưởng trở xuống, còn cái gì không biết, còn cái gì phải góp ý.
Khổ nỗi vợ anh cũng lại là một người đàn bà vừa tham lam, vừa ngu tối, hý hửng với bất kỳ cái gì chồng con mang về được, không kể nguồn gốc xấu tốt. Rồi cũng đã đến lúc anh phải về hưu với cái hàm Trung tá. Anh cũng đã kịp có một cơ ngơi khang trang, nhà cửa rộng rãi, đồ đạc đắt tiền. Quy luật tự nhiên cứ diễn biến tuần tự. Mẹ anh già rồi cũng phải chết, nhưng bà đã chết trong đói rét và đã trút hơi thở cuối cùng trên đường đi cấp cứu.
Linh tóc cũng đã muối tiêu, con cái anh cũng đã lớn. Hai thằng con trai to cao, trắng trẻo, đã từng là niềm tự hào của gia đình và dòng họ. Nhưng khổ nỗi chúng chẳng chịu học đã đành, lại chẳng chịu làm bất kỳ một cái gì. Chúng lấy đồ đạc trong nhà đem bán để có tiền cờ bạc, chơi gái và tiêm chích thuốc phiện. Chúng không gọi anh là bố như hồi còn bé nữa, mà chỉ thân thiện với anh có vài ngày, đó là kỳ anh lĩnh lương hưu. Rồi vào tù, ra tội, tội lỗi của chúng không còn nằm trong phạm vi gia đình, phố xóm nữa. Chúng trộm cắp, cướp giật. Trong túi chúng lúc nào cũng có hung khí giết người. Cuộc đời trắng trẻo của chúng đã bị bôi nhem nhuốc, như những vết xăm đầy trên mình chúng.
Đầu tiên còn tiền, Linh chạy chỗ này, chỗ nọ để xin cho con. Nhưng những vụ phạm tội cứ lập đi, lập lại đến chóng mặt và đến khi trong nhà đã rỗng tuếch, các cơ quan trật tự, an ninh cứ thấy anh là lảng tránh không muốn tiếp nữa và đến khi thực sự không còn tác dụng gì, thì anh trở thành nạn nhân ngay chính trong căn nhà mình. Để lấy của bố vài ngàn đồng đi chích sái, các con anh sẵn sàng đánh anh một trận thật khủng khiếp, sưng mặt, vỡ mồm, hoặc dìm anh trong bể nước.
Thoáng chốc mẹ anh chết đã ba năm, nghĩa trang báo để gia đình anh cải táng cho bà cụ, nhưng giờ đây lấy tiền đâu để mà lo liệu.
Và rồi sự việc đã diễn ra như thế.
Người ta tìm thấy Linh nằm rũ như một nắm giẻ bẩn bên gốc cây ven hồ. Anh được đưa vào bệnh viện cấp cứu. Vợ con anh chẳng ai đến thăm anh cả, và cũng từ đó anh không nhớ rõ anh là ai, đi đâu, nói gì, ăn gì nữa.
Hình ảnh bà lão lặng lẽ, run rẩy trong đêm đông, mưa rét cứ luôn hiện về ám ảnh anh. Những lúc như vậy anh lại lần mò ra ven hồ, nơi đã ném nắm xương nham nhở của mẹ xuống nước, rồi rùng mình lẩm bẩm:
- Lạnh lắm, ở dưới đó lạnh lắm phải không mẹ? Nước xoáy mạnh lắm phải không mẹ?
Ai cũng cho là Linh điên. Người điên cũng có cái hay của họ, vì họ không còn ý thức được hoàn cảnh và cả bản thân mình nữa. Nhưng còn Linh anh nào có điên được. Anh vẫn đủ tỉnh táo để đếm lương hưu không thiếu một xu, dấu tiền đi để tiêu một mình, vẫn biết ăn cái gì ngon, uống rượu nào thích và nhất là vẫn biết đau khi các con anh đánh. Khi nhớ lại những việc đã trải qua, anh rất buồn nhưng tất cả đã muộn mất rồi, chẳng còn cơ hội nào làm lại nữa.
Lắm lúc Linh muốn điên hẳn để quên đi những dằn vặt, những ảo ảnh dai dẳng bám lấy anh như một lời nguyền khủng khiếp.
Nhưng điên nào có dễ!

                                                                                             Hà Nội, 1994. 


Liên hệ:      DĐ: 0915140055

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét