tháng 9 20, 2014

Anh Hùng Đen

Khi vừa tốt nghiệp Bách Khoa về Viện Thiết kế nhận công tác, thì người tổ trưởng đầu tiên của tôi là Nguyễn Hùng. Mọi người thường gọi anh là Hùng Đen, do cái dáng cao gầy và nước da đen sì sì như rổ rá được hong gác bếp vậy. Anh hơn tôi ba tuổi, cũng quê Hải Phòng, học Bách khoa Cầu đường trước tôi ba khóa.
Trong công việc anh là người chỉn chu, thận trọng một cách hơi quá đáng.
Bản vẽ thì phải dùng chì mài thật nhọn, nét thật mảnh và thật chính xác, mấy cô can in rất sợ khi phải nhận can bản vẽ của anh, bởi đặt giấy can lên trên là không nhìn thấy gì nữa; muốn can được cứ phải giở lên, đặt xuống liên tục rất mất thì giờ.
Còn bản tính thì không dưới năm lần rà đi, soát lại đủ năm màu mực khác nhau mặc dù lần trước chỉ khác lần sau có phần mười nghìn đơn vị.
Hồi ấy cả nước còn nghèo. Cơ quan chỉ cho chúng tôi mượn thước tính rút(1) của Liên Xô làm bằng gỗ không được nhiệt đới hóa, thành ra nó cong vênh như “môi nàng Thị Nở”. Kéo ra kết quả cũng còn phải “nội suy” mệt nhọc mới dám viết. Anh là tổ trưởng và lại là tổ trưởng xuất sắc nên được cơ quan cho mượn một thước tính rút bằng nhựa của Cộng hòa Dân chủ Đức. Cả tổ chúng tôi coi đó là “báu vật”, ai soát lần cuối mới được mượn thước của anh. Lần nào đưa thước cho mượn, anh cũng dặn phải cẩn thận đừng đánh rơi, nó mà mẻ đi thì “phí” lắm! Dặn rồi anh mở một hộp nhỏ thận trọng giở cái thước rất sạch sẽ, được bọc cẩn thận trong một miếng dạ mỏng, đưa cho.
Cứ nhìn cái cung cách ấy, cứ nghe những lời dặn dò ấy thì người đoảng nhất, vô tâm nhất cũng phải thận trọng hơn, nhẹ nhàng hơn.
Một lần do “gần chùa gọi bụt bằng anh”; khi đưa anh bản tính để anh duyệt, tôi nửa đùa, nửa thật nói:
- Trong trường anh không được học môn sai số à?!
- Cậu bảo gì? Anh trừng mắt hỏi lại.
- Chúng ta đang tính toán cho những công trình giao thông, đơn vị tính toán là cen-ti-mét, vì thế sai số cho phép cũng là cen-ti-mét. Thế mà các bản tính của tổ ta, anh yêu cấu đèo cái đuôi sau dấu phẩy tới bốn, năm con số để làm gì!? Đến “cơ khí chính xác”, hoặc tính để chế tạo “tên lửa vũ trụ” cũng không chi li đến như thế? Hơn nữa tính bằng thước rút Liên Xô thì mười lần sẽ “nội suy” ra mười kết quả khác nhau tí chút, làm sao mà khớp cho được?!
- Cậu nên xin sang tổ khác mà làm việc!
Nói rồi, anh giận không nói với tôi mấy ngày liền. Thực ra Phòng Cầu bộ chỉ có một tổ Thiết kế là Tổ Hùng Đen. Xin sang tổ khác, thì chỉ có ra khỏi phòng!?
Hồi cơ quan sơ tán ở Bắc Kế, Hương Canh, phải ở nhờ nhà dân, ăn cơm tập thể mỗi mâm mấy người, mới biết anh không ăn được món ăn gì ngoài rau luộc, trứng tráng, đậu phụ, thịt thì anh ăn rất ít.
Là người anh thân nhất nên hay trò chuyện lúc rỗi rãi, có lần tôi hỏi anh:
- Hồi bé anh ở Đồ Sơn, nơi làm mắm tôm ngon nổi tiếng mà sao anh lại không ăn được mắm tôm?
- Tớ sợ mắm tôm lắm!
- Gần như toàn dân Đồ Sơn đều ăn được mắm tôm. Sao anh lại đặc biệt vậy?
Anh không giải thích, mà bọn tôi cũng không tin.
Một hôm anh em trong tổ ăn tươi có món thịt chó và tất nhiên là có cả mắm tôm. Hùng biết vậy báo nhà ăn xin một xuất cơm kiêng. Anh em trong tổ có thằng Chiến ít tuổi nhất và cũng nghịch nhất, khi lấy cơm từ nhà ăn về đã lén quệt một ít mắm tôm vào giữa miếng trứng tráng của xuất cơm anh Hùng. Khi ăn, vô tình cắn miếng trứng có quệt mắm tôm. Thế là anh nôn thốc, nôn tháo như ăn phải thuốc độc vậy. Sau đó anh bỏ ăn liền hai bữa cơm nữa, làm cả tổ “sợ xanh mắt mèo”. Không ai còn dám  đùa anh nữa.
Mãi sau này khi đã rất thân nhau coi như bạn tốt, tôi mới dần dần biết chuyện.
Khi mới được hai tuổi mẹ mất, bố anh đi bước nữa. Người dì ghẻ không chấp nhận anh. Các chị lấy chồng đều nghèo, không ai nuôi được Hùng, thành ra anh phải về ở với bà ngoại ngoài Đồ Sơn. Bà chỉ sinh có mình mẹ anh, thành khi đã già có cưu mang cháu cũng chỉ bữa đực, bữa cái, chẳng bao giờ được ăn những thức ăn mà người Đồ Sơn thường ăn như tôm, cá. Mắm tôm lại càng không bao giờ được ăn! Sau này lớn rồi thành thói quen vả lại cơ thể suy dinh dưỡng từ nhỏ nên anh thường dị ứng với những món ăn lạ, nhất là những món ăn giàu đạm.
Lúc bà đã quá già yếu, không sao nuôi nổi cháu nữa, thì cũng thật may, đó là lúc anh tốt nghiệp Phổ thông. Bản tính cần cù lại được óc thông minh trời phú, anh thi đỗ vào Đại học Bách Khoa ngay lần thi đầu tiên.
Lúc bấy giờ cũng may có ông bác họ xa là cán bộ to đỡ cho, chứ không thì thành phần tư sản làm sao mà được học đại học!?
Bố anh bị quy là tư sản, dù là tư sản đã phá sản, nhưng vẫn là tư sản! Anh dù học rất giỏi cũng vẫn không được học bổng vì đã “trót dại” làm con tư sản!
Lúc ấy các chị dù thương em đứt ruột cũng chỉ có thể góp nhau vào giúp cậu em sinh viên mỗi tháng mười đồng (năm 1957).
Cơm tập thể nhà trường nấu cho sinh viên mỗi tháng là mười tám đồng (mỗi bữa định xuất ba hào), đấy là chưa kể phải có tiền mua xà-phòng giặt quần áo, tiền cắt tóc, tiền sách bút,… thế thì làm thế nào để học năm năm đại học?!
Anh đã có một sáng kiến (hay khốn nạn kiến?) là ra ăn cơm bình dân ngoài cổng trường. Bữa, anh mua một hào cơm rồi xin ít nước mắm (thực ra là nước muối pha chút màu của kẹo đắng), ít nước rau muống luộc miễn phí, nói dối là bị bệnh đường ruột phải ăn kiêng! Mãi mấy năm sau mẹ con bà bán cơm mới biết hoàn cảnh đặc biệt của chàng sinh viên nghèo này, lén thêm vào hào cơm anh một miếng đậu rim mặn, nhưng anh kiên quyết từ chối. Cả hai bên đều rất hiểu nhau và cũng bởi anh không muốn nợ nần và cũng bởi vì anh là người tự trọng.
Sau khi tốt nghiệp vào loại xuất sắc anh được Viện Thiết kế chọn về làm việc.
Đó gần như định mệnh mà sau này tôi may mắn được gặp và làm việc với anh.
Tôi, một kẻ ngang ngạnh và phóng túng, chưa bao giờ biết sợ một ai. Thế mà chỉ được làm việc với anh dăm năm, được anh rèn cặp, tôi đã trở nên chín chắn hơn, nghiêm túc hơn.
Anh không giàu có, không có chút chức quyền nào, nhưng ai đã quen biết cũng phải mến phục anh vì sự chân thành, thẳng thắn. Cơ thể anh rất gầy yếu, vì anh bị thiếu chất từ khi lọt lòng mẹ, nhưng tâm hồn anh lại thật khỏe khoắn, thật nồng hậu.
Trong cuộc đời, nhất là trong khoa học kỹ thuật rất cần có những người như anh.
Anh mất mẹ từ rất sớm nên không biết mặt bà, nhưng trong tâm thức anh luôn có một hình bóng một người mẹ rất đẹp đẽ, rất rực rỡ. 
Anh mất đã khá lâu, nhưng với tôi anh vẫn sống                        

                                                                                                                   Hà Nôi, 2013. 
(1)  Thước tính rút: Công cụ tính toán hồi giữa thế kỷ trước.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét