tháng 6 22, 2015

Tình yêu cuộc sống

Đây không biết đã là khu Tập thể thứ chín hay thứ mười có Cán bộ Công nhân viên làm nghề Giao thông ở.
Chị Châu ngồi bệt xuống nền nhà, hai tay bóp bóp đôi bàn chân đã tê cứng qua bao ngày đi bộ không ngừng nghỉ. Cứ nhìn mấy đứa con nhỏ, rách rưới, mệt mỏi, dựa quanh mẹ thì bất kỳ ai cũng thấy lòng trào lên một sự cảm thông vô hạn. Chị không khóc, vì nếu bây giờ cái “cột chống trời” duy nhất sụp xuống thì đàn con, những bốn đứa lớn nhỏ, đứa lớn nhất mới mười hai, đứa nhỏ chỉ mới ba tuổi sẽ đổ sập xuống ngay, mà rồi làm sao để vực chúng lên được nữa.
Đã gần tháng nay chị bồng bế các con lên Hà Nội để tìm chồng. Trong lưng chỉ còn tiền mua được dăm bơ gạo. Quê miền Trung năm nay hạn hán mất mùa. Thiếu đói là cái tất nhiên. Nhưng nhà người ta toàn người lớn mà đã có nhà phải mò lên rừng để đào củ mài kiếm sống. Chị cũng đã thử nhưng vì còn một đàn con nhỏ, thì làm thế nào mà vượt qua được nạn đói này được. Từ mấy tháng nay lại có chiến sự, nên thư từ không trao đổi được. Chồng không về đã đành, tiền cũng không thấy gửi về thì lấy gì mà sống, mà nuôi con, làm thế nào để vượt qua cơn “bĩ cực”(1) bây giờ?
Chị chỉ nhớ và nhớ rất rõ là chồng chị làm ở ngành Giao thông. Cơ quan đóng tại Hà Nội. Mỗi lần về quê mãi Hà Tĩnh, anh đều đi tàu hỏa. Lần nào anh về mà lũ con cái và chị chẳng ra ga đón bố, đón chồng trong niềm hân hoan bất tận.
Anh vừa là chồng, là cha, nhưng cái quan trọng hơn cả anh là nguồn sống chính duy nhất của cả gia đình này. Ở quê năm mẹ con chị chỉ quanh quẩn trông nom nhau và xới xáo mảnh vườn nhỏ để có thêm một ít rau quả cải thiện chút ít vào những khoản tiêu pha chính như gạo muối.
Đất ở đây cằn cỗi, bắt người phài chăm chút và “chiều như chiều vong” mới đền lại được chút lộc trời. Còn dăm sào ruộng có làm quần quật cũng chẳng ra được mấy ngô khoai.
Thế là để tìm cha, tìm chồng mong vượt được cơn đói khát dữ dội mà ông trời đang muốn thử thách mấy mẹ con. Chị quyết tâm ra Hà Nội để tìm đường cứu mình trước lúc mong được trời cứu.
Cứ suy ra thì biết từ Hà Nội về nhà đi tàu hỏa thì để đến được Hà Nội cứ theo đường tàu mà đi thì sẽ tới. Nghĩ thế, chị bèn gói ghém ít quần áo mang theo và bồng bế các con lên đường. Và đoàn người ấy cứ theo đường tàu mà đi ra phía chân trời hy vọng.
***
Những người chứng kiến gom góp nhau vào mỗi người một ít để qua bữa tối nay.
Họ nhường giường cho mấy đứa trẻ và cùng chị giải chiếu ra sàn nằm ngủ qua đêm. Thế này cũng còn sướng hơn bao nhiêu lần ở quê rồi. Nhưng sáng mai, khi mọi người cũng phải đi làm, thì mẹ con chị chỉ còn cách chấp nhận bồng bế nhau đến một địa chỉ mới để mà tìm hú họa. Chị cứ suy nghĩ miên man và luôn dằn vặt bản thân mình là làm sao lại đánh mất cái thư cuối cùng của chồng gửi về cách đây mới hai tháng. Trên phong bì thư có ghi địa chỉ rõ ràng của cả người gửi và người nhận. Mà tại sao cũng vô tâm không đọc đi, đọc lại để nhớ lấy địa chỉ của chồng như vậy? Ai có ngờ đâu sự thể lại diễn ra như bây giờ? Ai nghĩ là sẽ đói kém đến như bây giờ?
Cứ nghĩ đến cơ sự mấy đứa bé phải chết vì đói, hay ngược lại chị chết trước chúng, rồi con chị dắt con em nhếch nhác trên đường đời vô định. Chị lại lén lau nước mắt và dấu các con sự yếu mềm này.
***
Chị cảm ơn những người tốt bụng không quen biết đã cưu mang mẹ con chị những ngày qua và vẫn đinh ninh lời dặn dò của họ là nếu không tìm thấy chồng thì hãy quay về đây. Khi dắt con ra khỏi nơi tạm trú cuối cùng này, có một bác già đã lớn tuổi dặn thêm:
- Hay cháu hãy để các con ở đây bác trông cho, đi một mình tìm sẽ dễ dàng hơn là đìu ríu mấy mẹ con thế này.
Nhưng mấy đứa trẻ không chịu, khóc lóc, nằng nặc đòi theo mẹ bằng được.
Không thể dỗ dành được, mà làm sao chúng yên tâm ở lại đây, một nơi không quen biết để mẹ chúng đi tìm cha một mình. Nhỡ như mẹ làm sao, không về với chúng nữa, thì chúng biết làm thế nào? Thế là mẹ con lại tay xách, nách mang, bồng bế nhau lên đường.
Đời là bể khổ mênh mông, nhưng ông trời cũng không nỡ đùa cợt chúng sinh mãi.
Đến cuối ngày, khi đã mệt và đói lắm rồi, mẹ con đành ngồi nghỉ dưới một bóng cây ven đường, cạnh cổng một Cơ quan thì một người đàn ông đi qua chợt dừng lại rồi hốt hoảng kêu lên:
- Mẹ con con Tép đấy à? Làm sao lại ra mãi đây tìm tôi?
Người đàn bà khốn khổ và kiệt sức ấy nhìn lên. Một tia sáng chói lòa vụt hiện đến trong mắt chị, khi chi nhận ra đó là chồng mình. Chị nấc lên một cái rõ mạnh rồi rũ xuống ngất xỉu đi, không nói thêm được câu gì nữa.
Bốn đứa trẻ ôm lấy mẹ kêu ré lên như xé ruột.
Người ta đã đưa người đàn bà dũng cảm ấy vào bệnh viện cấp cứu. Và cũng thật may mắn, chỉ chậm chút nữa thì không cứu được.
Chị bị suy dinh dưỡng nặng do quá cơ cực và do thường phải nhịn đói để nhường miếng ăn ít ỏi cho các con.
Anh chồng chị ấy là anh Trần Vị làm cùng phòng Cầu Bộ với tôi ở Viện Thiết kế Giao thông, từ những năm 1966.
Hôm nọ nhân ngày nghỉ, lại chưa có gia đinh, anh Vị rủ tôi lên Bắc Giang thăm vợ con anh. Đến cơ ngơi khá khang trang của gia đình anh chị, tôi càng nể phục vợ chồng anh về tình yêu cuộc sống, sự vượt khó để tồn tại và vươn lên thật mạnh mẽ.   
Tôi có kể chuyện này cho một ông bạn già nghe, ông ta bảo:
- Chúng ta yêu cuộc sống một, thì những người khốn khó yêu cuộc sống hai, ba!
- Thế chả nhẽ những kẻ ăn trên ngồi trốc, sống phè phỡn, chúng không yêu cuốc sống sao?
- Chúng không biết yêu cuộc sống, mà chúng chỉ muốn “ăn tươi nuốt sống” cuộc sống. Chúng là những kẻ đáng thương. Chúng ăn nhiều, uống lắm, nhưng vẫn luôn đói khát. Chỉ những người biết yêu cuộc sống mới biết cuộc sống thi vị và đáng sống như thế nào!

Hà Nội, 2015.

(1) Bĩ cực: sự rủi ro, long đong đến cùng cực

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét