Đây không biết đã là khu Tập thể thứ chín hay thứ
mười có Cán bộ Công nhân viên làm nghề Giao thông ở.
Chị Châu ngồi bệt xuống nền nhà, hai tay bóp bóp đôi
bàn chân đã tê cứng qua bao ngày đi bộ không ngừng nghỉ. Cứ nhìn mấy đứa con
nhỏ, rách rưới, mệt mỏi, dựa quanh mẹ thì bất kỳ ai cũng thấy lòng trào lên một
sự cảm thông vô hạn. Chị không khóc, vì nếu bây giờ cái “cột chống trời” duy
nhất sụp xuống thì đàn con, những bốn đứa lớn nhỏ, đứa lớn nhất mới mười hai,
đứa nhỏ chỉ mới ba tuổi sẽ đổ sập xuống ngay, mà rồi làm sao để vực chúng lên
được nữa.
Đã gần tháng nay chị bồng bế các con lên Hà Nội để
tìm chồng. Trong lưng chỉ còn tiền mua được dăm bơ gạo. Quê miền Trung năm nay
hạn hán mất mùa. Thiếu đói là cái tất nhiên. Nhưng nhà người ta toàn người lớn
mà đã có nhà phải mò lên rừng để đào củ mài kiếm sống. Chị cũng đã thử nhưng vì
còn một đàn con nhỏ, thì làm thế nào mà vượt qua được nạn đói này
được. Từ mấy tháng nay lại có chiến sự, nên thư từ không trao đổi được. Chồng
không về đã đành, tiền cũng không thấy gửi về thì lấy gì mà sống, mà nuôi con,
làm thế nào để vượt qua cơn “bĩ cực”(1) bây giờ?
Chị chỉ nhớ và nhớ rất rõ là chồng chị làm ở ngành
Giao thông. Cơ quan đóng tại Hà Nội. Mỗi lần về quê mãi Hà Tĩnh, anh đều đi tàu
hỏa. Lần nào anh về mà lũ con cái và chị chẳng ra ga đón bố, đón chồng trong
niềm hân hoan bất tận.
Anh vừa là chồng, là cha, nhưng cái quan trọng hơn
cả anh là nguồn sống chính duy nhất của cả gia đình này. Ở quê năm mẹ con chị
chỉ quanh quẩn trông nom nhau và xới xáo mảnh vườn nhỏ để có thêm một ít rau
quả cải thiện chút ít vào những khoản tiêu pha chính như gạo muối.
Đất ở đây cằn cỗi, bắt người phài chăm chút và “chiều
như chiều vong” mới đền lại được chút lộc trời. Còn dăm sào ruộng có làm quần
quật cũng chẳng ra được mấy ngô khoai.
Thế là để tìm cha, tìm chồng mong vượt được cơn đói
khát dữ dội mà ông trời đang muốn thử thách mấy mẹ con. Chị quyết tâm ra Hà Nội
để tìm đường cứu mình trước lúc mong được trời cứu.
Cứ suy ra thì biết từ Hà Nội về nhà đi tàu hỏa thì
để đến được Hà Nội cứ theo đường tàu mà đi thì sẽ tới. Nghĩ thế, chị bèn gói
ghém ít quần áo mang theo và bồng bế các con lên đường. Và đoàn người ấy cứ
theo đường tàu mà đi ra phía chân trời hy vọng.
***
Những người chứng kiến gom góp nhau vào mỗi người
một ít để qua bữa tối nay.
Họ nhường giường cho mấy đứa trẻ và cùng chị giải
chiếu ra sàn nằm ngủ qua đêm. Thế này cũng còn sướng hơn bao nhiêu lần ở quê
rồi. Nhưng sáng mai, khi mọi người cũng phải đi làm, thì mẹ con chị chỉ còn
cách chấp nhận bồng bế nhau đến một địa chỉ mới để mà tìm hú họa. Chị cứ suy
nghĩ miên man và luôn dằn vặt bản thân mình là làm sao lại đánh mất cái thư
cuối cùng của chồng gửi về cách đây mới hai tháng. Trên phong bì thư có ghi địa
chỉ rõ ràng của cả người gửi và người nhận. Mà tại sao cũng vô tâm không đọc
đi, đọc lại để nhớ lấy địa chỉ của chồng như vậy? Ai có ngờ đâu sự thể lại diễn
ra như bây giờ? Ai nghĩ là sẽ đói kém đến như bây giờ?
Cứ nghĩ đến cơ sự mấy đứa bé phải chết vì đói, hay
ngược lại chị chết trước chúng, rồi con chị dắt con em nhếch nhác trên đường
đời vô định. Chị lại lén lau nước mắt và dấu các con sự yếu mềm này.
***
Chị cảm ơn những người tốt bụng không quen biết đã
cưu mang mẹ con chị những ngày qua và vẫn đinh ninh lời dặn dò của họ là nếu
không tìm thấy chồng thì hãy quay về đây. Khi dắt con ra khỏi nơi tạm trú cuối
cùng này, có một bác già đã lớn tuổi dặn thêm:
- Hay cháu hãy để các con ở đây bác trông cho, đi
một mình tìm sẽ dễ dàng hơn là đìu ríu mấy mẹ con thế này.
Nhưng mấy đứa trẻ không chịu, khóc lóc, nằng nặc đòi
theo mẹ bằng được.
Không thể dỗ dành được, mà làm sao chúng yên tâm ở
lại đây, một nơi không quen biết để mẹ chúng đi tìm cha một mình. Nhỡ như mẹ
làm sao, không về với chúng nữa, thì chúng biết làm thế nào? Thế là mẹ con lại
tay xách, nách mang, bồng bế nhau lên đường.
Đời là bể khổ mênh mông, nhưng ông trời cũng không
nỡ đùa cợt chúng sinh mãi.
Đến cuối ngày, khi đã mệt và đói lắm rồi, mẹ con đành
ngồi nghỉ dưới một bóng cây ven đường, cạnh cổng một Cơ quan thì một người đàn
ông đi qua chợt dừng lại rồi hốt hoảng kêu lên:
- Mẹ con con Tép đấy à? Làm sao lại ra mãi đây tìm
tôi?
Người đàn bà khốn khổ và kiệt sức ấy nhìn lên. Một
tia sáng chói lòa vụt hiện đến trong mắt chị, khi chi nhận ra đó là chồng mình.
Chị nấc lên một cái rõ mạnh rồi rũ xuống ngất xỉu đi, không nói thêm được câu
gì nữa.
Bốn đứa trẻ ôm lấy mẹ kêu ré lên như xé ruột.
Người ta đã đưa người đàn bà dũng cảm ấy vào bệnh
viện cấp cứu. Và cũng thật may mắn, chỉ chậm chút nữa thì không cứu được.
Chị bị suy dinh dưỡng nặng do quá cơ cực và do
thường phải nhịn đói để nhường miếng ăn ít ỏi cho các con.
Anh chồng chị ấy là anh Trần Vị làm cùng phòng Cầu Bộ với
tôi ở Viện Thiết kế Giao thông, từ những năm 1966.
Hôm nọ nhân ngày nghỉ, lại chưa có gia đinh, anh Vị rủ tôi lên Bắc Giang thăm vợ con anh. Đến cơ ngơi khá khang trang của gia đình
anh chị, tôi càng nể phục vợ chồng anh về tình yêu cuộc sống, sự vượt khó để
tồn tại và vươn lên thật mạnh mẽ.
Tôi có kể chuyện này cho một ông bạn già nghe, ông
ta bảo:
- Chúng ta yêu cuộc sống một, thì những người
khốn khó yêu cuộc sống hai, ba!
- Thế chả nhẽ những kẻ ăn trên ngồi trốc, sống phè
phỡn, chúng không yêu cuốc sống sao?
- Chúng không biết yêu cuộc sống, mà chúng chỉ muốn
“ăn tươi nuốt sống” cuộc sống. Chúng là những kẻ đáng thương. Chúng ăn nhiều,
uống lắm, nhưng vẫn luôn đói khát. Chỉ những người biết yêu cuộc sống mới biết
cuộc sống thi vị và đáng sống như thế nào!
Hà Nội, 2015.
(1) Bĩ cực: sự rủi ro, long đong đến cùng cực
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét