Thời kỳ tôi đi làm Tư vấn Giám sát mười cầu Phía
Bắc trên tuyến Quốc lộ 1A từ Mẹt đến Đồng Đăng khoảng năm 1999-2000. Trụ sở cơ
quan đóng ở Cao Lộc, cách cầu Mai Pha khoảng bảy ki-lô-mét. Trong cái nghề làm
Tư vấn Giám sát có cái hay và cũng có nhiều cái không hay cho lắm.
Thứ nhất là tôi được làm đúng cái nghề mà mình yêu
thích. Tôi được đào tạo về cầu lại được làm những việc về cầu.
Thứ hai là tính tình ưa lang bạt kỳ hồ, lại có tý
chập cheng, không thích bị ràng buộc, không thích bị giam lâu một nơi nào, nên
quả thực tôi cũng được thỏa mãn cái thú lăng nhăng, nay đây mai đó.
Còn cái dở thì có kể cả ngày cũng không hết được.
Thứ nhất là bị nhiều người ghét bỏ, thậm chí còn căm
tức. Cái lỗi là tại ông trời, chứ có khi chẳng phải do mình tạo ra. Ở chưa bén
chỗ đã rục rịch ba-lô khăn gói lên đường.
Còn trẻ, chưa vợ con thì lúc đi khỏi rồi mới biết ở
nơi ấy cũng có người thương, người nhớ, mà cái thói đời, không dưng ai bận tâm
nghĩ ngợi làm gì. Có thương thì mới ghét, có nhớ mới giận. Có những lần cũng bị
giận khá lâu, kéo dài tới vài ba năm chứ không ít.
Lúc đã đứng tuổi mới có gia đình mà cũng vẫn bị oán là lấy
vợ sớm! Âu lỗi cũng tại ông trời.
Trong công việc làm ăn thì lắm lúc quả thực cũng phiền hà, phức tạp.
Khi còn trẻ, làm ở văn phòng thiết kế. Ít sai sót
thì bị liệt vào loại mọt sách, suốt ngày chỉ biết “cắm mặt” vào bản vẽ. Ngoài
ra chẳng biết cái “cóc khô” gì.
Còn nếu phạm phải sai sót gì thì bị coi là loại ẩu.
Nếu đồ án phải sửa đi sửa lại vài lần thì lập tức nổi tiếng ngay!
Sau này đi hiện trường. Lơ là, bỏ sót vài thứ thì bị
coi là đồ vô dụng. Trên không tin, dưới không nể. Chuẩn quá, “ke” quá thì coi
chừng, bị bỏ đói là chuyện nhỏ, đôi khi còn bị ăn đòn hoặc “bị trả thù” “một
cách rất trẻ con”, mà không biết phải tìm ai để mà “bày tỏ” nữa.
Lúc đã già thì như có trời sắp xếp, đi làm Tư vấn
Giám sát các công trình Giao thông! Những công trình này đa phần do Ngân hàng
nước ngoài cho vay vốn.
Nói như mấy “xừ” ở Ban Quản lý Dự án là làm Tư vấn,
Giám sát chỉ việc “ngồi nhà mát, uống nước lạnh”, “nói càng ít càng tốt”. Nhưng
thực tế lại không như thế.
Một lần ở cầu Mai Pha nhà thầu làm ẩu, bị bắt quả
tang. Cái lỗi thì chẳng có gì đáng nói. Đổ bê-tông trụ khi rỡ côp-pha bị rỗ
bóng nước. Như quy định thì “sản phẩm” làm ra thế nào, phải để Giám sát kiểm
tra rồi sửa hay không sửa, sửa cách gì, phải có biên bản nghiệm thu thống nhất
rồi mới được làm.
Đằng này mấy cậu kỹ sư trẻ của nhà thầu không có
kinh nghiệm, cho công nhân lấy nước xi-măng quét chỗ rỗ trên thân trụ.
Thế là như miếng vá khác màu đã tố cáo sự “gian dối”.
Kết quả là biên bản được lập ra không phải để bắt lỗi mấy cái bóng nước trên
thân trụ, mà là sự vi phạm qui định của quy trình thi công!
Cãi nhau “đỏ mày, quay tai” cậu bạn trẻ này nhất
định không chịu ký vào biên bản vi phạm. Thế là lệnh đình chỉ thi công được
phát ra từ mấy ông già Giám sát!
Sự việc đột nhiên trở nên căng thẳng, nhưng cuối
cùng rồi đâu cũng vào đó. Sau khi nhận thiếu sót và đã ký vào biên bản vi phạm.
Đơn vị lại được thi công bình thường.
Để xoa dịu không khí căng thẳng ấy, tay đội trưởng đội
cầu khôn khéo kéo bằng được mấy ông giám sát đi ăn trưa và sau đó là đi hát
Ka-ra-ô-kê có tay vịn.
Quán Ka-ra-ô-kê này là một quán nhỏ, nằm mãi trong
một khúc quanh, nên cũng có vẻ vắng khách. Một lúc sau mới thu xếp xong để hát
và tìm được mấy cô tiếp viên.
Cô bé ngồi với tôi còn trẻ lắm, không xinh và có vẻ
hơi ngây ngô. Khi bài hát đã được khởi động trên màn hình rồi mà thấy tôi không
hát, cô ta cứ dục và nèo kéo mãi.
Tôi đành thú thật là không thích hát. Cô ta đành hát
một mình, giọng lơ lớ như giọng một người nước ngoài nói tiếng Việt.
Tôi hỏi thì cô bé thành thật trả lời:
- Em là người Nùng ở tận Sài Hồ mới theo chị Tình
lên đây được một tháng.
- Em bao nhiêu tuổi rồi?
- Mười bảy.
- Sao không ở nhà với bố mế làm nương?
- Chị Tình bảo lên đây, không phải làm gì, lại được
sung sướng.
- Có sung sướng hơn ở nhà không?
- Sung sướng hơn ở nhà nhiều chứ! Được ăn ngon hơn,
mặc đẹp hơn này, lại không phải đi làm nương, làm rẫy!
- Thế không thấy nhớ nhà sao?
- Nhớ nhất là mế và thằng Lủi, mới bảy tuổi.
Một lúc sau thấy tôi không có động tác gì khác là
hỏi han, trò chuyện. Cô gái chủ động cầm tay tôi đặt lên bộ ngực mới nhú của
mình, rồi cười ngượng ngập nói:
- Anh không thích à?
Tôi nắm lấy tay cô bé, hỏi qua chuyện khác:
- Em tên gì?
- Ở nhà mế gọi là Len. Nhưng lên đây họ bảo đổi là
Liên cho nó hay.
- Liên này, em nên về quê với mế, với em. Chịu khó
làm lụng, rồi lấy chồng sinh con như bao dân bản mình ấy. Có vất vả đấy, nhưng
người ta sống được, thì mình cũng sống được, có sao đâu!
- Không về được nữa đâu anh à!
- Sao thế?
- Bỏ nhà đi làm nghề này thì không quay về được nữa
rồi! Bố mế giết chết!
- Thế nếu em bỏ nhà hàng này rồi ra làm một nghề nào
đó để sống thì có bằng lòng không?
- Bỏ nhà hàng thì chết ngay.
- Sao thế?
- Lấy đâu ra tiền chuộc? Các anh “bảo kê” sẽ đập
chết rồi lôi vào rừng vứt xác xuống khe.
- Tiền chuộc gì?
- Tiền bà chủ bỏ ra mua quần áo, mua son phấn, tiền
ăn, tiền nhà, nhiều lắm.
- Thế đã ai bị đập chết chưa?
- Em chưa biết nhưng mới nghe đã sợ lắm rồi. Bọn em
không dám làm thế đâu!
- Bây giờ nếu có người chuộc em ra rồi cho em đi học
một nghề nào đó, em có bằng lòng không?
- Tiền chuộc nhiều lắm, chẳng ai có đủ đâu. Mà em
biết học nghề gì?
***
Gần cuối dự án có chút tiền, tôi tìm gặp lại Len ở quán
cũ. Cô bé thực sự ngỡ ngàng về ý đồ tôi sẽ chuộc cô ra khỏi quán Ka-ra-ô-kê. Cũng
may việc thương lượng với bà chủ quán cũng khá trôi chảy, vì tôi có rủ đi cùng một
ông bạn mới quen là người có chút vai vế ở địa phương.
Sau khi ra khỏi nhà hàng, tôi cho Len lên thị trấn
học nghề may, rồi mua cho cô một cái máy khâu Trung Quốc trên chợ Đồng Đăng giá
chỉ dăm trăm nghìn.
Sau đó tôi đã theo dõi và động viên Len một thời
gian dài.
Cô bé cũng đã cố gắng vươn lên để học nghề mới và để
sống. Một cuộc sống không hề nhàn hạ như cô mơ ước khi bỏ nhà ra đi, nhưng là
một nghề lương thiện.
Mấy năm sau tôi được tin Len lấy chồng. Tôi rủ vợ cùng
lên Lạng để mừng cho cô bé.
Len đã khóc nức lên khi gặp lại tôi và cô đã gọi tôi là
bố từ đấy.
Hà Nội, 2015.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét