Trên
tuyến 1A gồm mười cầu từ Mẹt đến Đồng Đăng có một đoạn tránh. Nằm trên đoạn
tránh này có bốn cầu nhỏ khẩu độ chỉ trên dưới mười mét. Từ những năm 1902, 1903, người Pháp đã khai thác đoạn tránh này, họ cho đường bộ và đường sắt đi
chung. Bốn cầu nằm trên đất Sài Hồ được đặt tên là Sài Hồ Một, Sài Hồ Hai, Sài
Hồ Ba, Sài Hồ Bốn, kể từ phía cầu Mẹt đi lên phía Đồng Đăng.
Đến năm 1945, 1946, sau khi cướp chính quyền, con đường này được thiết kế thay đổi lại để
đường sắt tách ra, đường bộ đi riêng.
Tuyến
đường bộ đổi mới được xây dựng sau giải phóng rất “hiểm ác”. Tuần nào cũng có
vài, ba cái xe đang đi trên đường “tự nhiên lộn phộc” xuống vực sâu. Xe tan,
hàng mất, còn người cũng thường theo “ông bà, ông vải” về Tây Trúc, nhưng không
phải đi thỉnh kinh như Đường Tam tạng, trong Tây Du ký đâu.
Khi
có tai nạn xảy ra, mà đổ tội cho người lái xe thì đúng quá đi rồi, ai mà cãi
lại được. Có kém, có sai sót, mới “lái xe” xuống vực, chứ không thì ai lại muốn
xuống “du ngoạn” ở dưới đó bao giờ!
Nhưng
nếu “khách quan” một chút thì sẽ nhận ra tuyến đường đi quả thật rất cheo leo,
hiểm ác, lên xuống thất thường, cua(1) rất ngặt. Mấy thiết bị an toàn trên
đường như gương lồi để nhìn xe ngược chiều, cũng chỗ có chỗ không, thành ra
nhiều lái xe đã nói nửa đùa, nửa thật là:
- “Đến
bến, bước xuống xe mới biết là mình còn sống!”. Chứ thật ra có tay lái xe nào
chán sống đâu mà lại chọn chỗ đèo heo, hút gió này mà lao xe xuống để đi tìm
cái chết!
Đến
năm 1998, 1999, do nước ngoài đầu tư vào tuyến 1A Hà Nội - Lạng Sơn. Họ đã khảo sát,
thiết kế lại từ đầu. Sau khi so sánh các phương án, thì phương án tối ưu cho
đường bộ, vẫn là phương án cũ của mấy “xừ”(2) Phú Lang Sa(3), tức là đi vào tuyến
tránh Sài Hồ.
JIBIC
một hãng thầu Xây dựng công trình lớn của Nhật Bản trúng thầu. Tuyến đường 1A
đoạn từ Mẹt đến Đồng Đăng được triển khai thi công, thì có đến ba nhà thầu
chính là Cienco 1, Cienco 8, và Cienco 4 cùng bảy tám nhà thầu phụ nữa được
JIBIC tuyển lựa và cho phép thi công.
Trong
Sài Hồ, bốn cầu cũng có bốn điểm nhà thầu phải lo chỗ ăn ở cho Tư vấn Giám sát.
Cầu Sài Hồ 1 ở ngay đầu tuyến nên chỗ này dân cư cũng đông hơn ba cầu phía
trong. Đồng bào ở đây chủ yếu là dân tộc Nùng. Kinh cũng có nhưng ít lắm.
Hai
vị Giám sát cầu này, nhà cửa, ăn ở không phải lo nữa. Tự nhiên thấy mình thành
người “quan trọng”, khác hẳn với những đồng bào xung quanh. Hồi mới nghỉ hưu,
chưa có việc, ở nhà vợ vẫn sai chợ búa, cơm nước, đưa đón cháu đi học. Nhưng
bây giờ bỗng nhiên không biết nấu nướng, chợ búa nữa.
Hai
vị bàn với nhau thuê một cô sơn nữ thạo tiếng Kinh để nấu cơm, đi chợ. Sau thấy
vẫn chưa “bõ” tiền công trả hằng tháng, hai ông bèn lôi thêm hai ông nữa ở cầu
Sài Hồ Hai cách chưa đầy cây số đến góp gạo để cô gái giúp việc thổi cơm chung
và kiêm cả kỳ lưng khi các ông rủ nhau ra tắm suối.
Cô
gái được tuyển này tiếng là người dân tộc nhưng láu hơn cả mười người Kinh gộp lại. Chót “lỡ trớn” với một thằng “ma-cà-bông” “xin được” một con bé con kháu
khỉnh, nên cô ta không cái gì là không biết, chưa có việc gì là chưa làm thử qua.
Cô
gái được trả lương đến một triệu một tháng, cơm nuôi, bằng mấy thu nhập khi bán nước ở cái quán nhỏ đầu đường, nên rất chịu khó và rất dễ bảo.
Những
hôm nóng, mọi người rủ nhau ra suối tắm, bảo cô ta cởỉ quần áo ra cho đỡ vướng
là nghe ngay.
Bảo
đứng ngồi tạo dáng để chụp ảnh kỷ niệm cũng không bao giờ ngần ngại. Chả thế mà
cuối dự án, ông nào cũng "sở hữu" hàng xâu ảnh khỏa thân rất đỗi “dễ thương” của cô
ta để lại làm kỷ niệm.
Bác
Hòa, bác Tư vấn già nhất hội, người từng làm đến chức Giám đốc Sở Xây dựng ở Hà
Nội đã định nhận cô làm con nuôi, có ý đưa cô về Hà Nội lập nghiệp. Nhưng có lẽ
vì chưa hợp tuổi, hay chưa “hợp với phong thủy” nên bác chưa làm cái việc
“nhân nghĩa tày đình” ấy được.
Đã
có lần bác tâm sự:
- “Mình
tuổi Mùi, mà lấy vợ lại tuổi Dần, nên lúc “gặp gỡ”, mình cứ nơm nớp sợ hãi vô
cớ y như “Dê” nằm trong miệng “Cọp” “luôn cảm thấy bất an” thế nào ấy!
Nhưng
có lẽ chẳng phải tại tuổi Cọp hay tuổi Dê mà sinh ra như thế đâu. Cái bác “nể”
bác gái, kể cả lúc còn đang làm Giám đốc, là bác có hàng “mớ vệ tinh” luôn vây
quanh lại “rất chi là khắng khít”. Ấy là bởi sự hào phóng của bác và cũng bởi
bác được “mệnh danh” là “Hòa Khan”! Một lúc có thể phục vụ dăm, bảy cô “rất vô
tư”!
***
Đã
lâu, tôi mới có dịp qua Sài Hồ, thăm hỏi lại chốn xưa, người cũ. Cô gái người Nùng
giúp việc cho mấy bác Giám sát ở Sài Hồ cũng đã lớn tuổi rồi mà vẫn còn độc thân
bán quán.
Hỏi
vì sao chưa lấy chồng thì cô bảo:
-
Vùng này đã đi bán quán và giúp việc cho người Kinh thì coi như “đồ bỏ đi” rồi.
Còn ai dám lấy nữa!
Trong
lòng tôi cứ tự hỏi chả biết như thế có khắt khe quá không???
Lúc
sau có một cậu bé cỡ mười ba, mười bốn trong nhà bước ra gọi cô bằng mẹ. Tôi
ngẩng lên nhìn thì giật mình như thấy ông bạn Tư vấn già của mình năm xưa xuất
hiện, chỉ có trẻ hơn nhiều thôi. Thật giống nhau như hai giọt nước! Hỏi thì cô
chỉ cười không nói.
Nhưng
tới lúc hỏi cô có biết tin ông Hòa đã mất năm ngoái không, thì tôi chợt thấy cô
khựng lại, rồi hai hàng nước mắt ào ạt chảy ra như hai dòng suối nhỏ, trong veo
nơi rừng sâu ngày nào có cô gái “tắm tiên” để mấy bác Tư vấn già chụp ảnh.
Tôi
trở về mà cứ áy náy, trách mình mãi.
Kể
như đừng cho cô ấy biết cái tin ấy thì tốt hơn. Để trong lòng cô vẫn luôn
hy vọng có ngày nào đó bác Hòa trở lại tìm!?
Hà Nội, 2015.
(1)
Cua: từ chữ courbe (tiếng Pháp) - đoạn cong, đường cong.
(2) Xừ: Ông: (Tiếng Pháp: Monsieur)
(3) Phú Lang Sa: người Pháp (Francaise)
(3) Phú Lang Sa: người Pháp (Francaise)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét