Khoảng
năm 1965-1970 thì phải, lúc ấy kinh tế gia đình tôi khó khăn lắm. Tuy hai vợ
chồng đều có công ăn việc làm cả. Tôi lại là kỹ sư của một cơ quan lớn mà luôn
phải “giật gấu, vá vai”(2), không lúc nào được dư dả. Hằng tháng không dám nghĩ
đến bát phở mậu dịch. Khi có con lại càng khó khăn hơn nữa.
Lương
thực, thực phẩm chỉ dám mua trong các ô tem phiếu quy định của nhà nước, thí dụ
hằng tháng mỗi Cán bộ công nhân viên chức được mua 13,5 kg gạo, trong đó phải ăn kèm ngô hoặc sắn
lát từ 40 đến 50%, 1,5 lít nước mắm loại 3 mà thực chất là nước muối pha kẹo
đắng để đánh lừa người dùng, 2 kg đậu phụ, 3 lạng mỡ, 2 lạng thịt, 2 kg rau
muống,...
Trong
căn nhà 12,5 mét vuông vách tooc-si(3), ở khu tập thể Dốc Trạm Mười, Cầy Giấy của cơ
quan Viện Thiết kế Giao thông mà cả hai vợ chồng tôi cùng công tác tại đó mới
được ưu tiên phân phối, đã quá chật chội rồi. Nhưng đến năm 1972 nhà của bố mẹ
tôi ở sát Nhà máy Xi măng Hải phòng bị bom Mỹ phá sập. Tôi phải đưa các cụ sơ
tán từ Hải Phòng lên. Trong gian nhà tập thể ấy ngoài chỗ kê cho ông bà một cái
giường hẹp, một cái tủ nhỏ thì chỉ còn chỗ để kê cái phản một mượn của cơ
quan cho vợ tôi và thằng con trai một tuổi nằm. Nếu chèn cái xe đạp duy nhất
vào nữa thì không còn chỗ đi lại. Bếp tự túc, xí, đái, tắm công cộng. Tôi mà
muốn “ở nhà với vợ” thì chỉ còn có “xuất nằm dưới gầm giường”. Vì thế trước khi
trời sắp tối, tôi thường vác chiếu đi “thăm dò” khắp các nhà trong khu xem có
ai đi công tác vắng, thì sang đó ngủ nhờ.
Khu
nhà tạm này nằm cạnh tập thể của trường Đại học Giao thông, đối diện với Đền
Voi Phục gần ngã năm Cầu Giấy. Đêm thanh vắng nằm nghe tiếng hổ gầm rõ như
chúng nằm ngay gần sát vách. Lắm lúc lại nghĩ lẩn thẩn rằng mình sắp biến thành
mấy con dã thú trên rừng cũng nên, đến ngày đó thế nào cũng “được nghỉ ngơi
miễn phí” trong cũi sắt.
Hai
đứa con tôi cũng lần lượt ra đời từ căn nhà tập thể nhỏ hẹp này, lớn lên trong
đói rách và đòn roi của bố mẹ. Các cụ đã từng nói “cái khó nó bó cái khôn”.
Nhưng chẳng hiểu sao cuộc sống vẫn cứ vần xoay như một cái đèn kéo quân cũ kỹ,
long tróc, méo mó mà sức nóng của ngọn đèn dầu nhỏ heo hắt thắp bên trong không còn
đủ sức làm cho nó quay đều đặn, trơn tru được nữa.
Những
hình ảnh còn lưu giữ được, xem và nhớ lại làm cho ta thảng thốt nghĩ rằng không
biết làm sao mà mình và gia đình vẫn tồn tại được đến giờ!? Thật là phi thường!
Thật là hết chỗ nói!
Thế
rồi sự tình run rủi thế nào ấy, khi người bạn thân của tôi cùng học với nhau từ
lúc “mặc quần thủng đít” đến lúc tốt nghiệp đại học. Sau đó mỗi đứa một phương.
Tôi về Viện Thiết kế, còn ông bạn tôi thì bị “sung vào lính” đóng tận bên Lào. Đất
nước này tuy “hoang dã và lạc hậu” nhưng được cái “sẵn” vàng và thuốc phiện. Mà
đã “ở lâu” “quen biết” thì bất kỳ ai cũng phải mua bán tí chút!
Lần
về ghé thăm tôi tại “thủ đô nghìn năm văn hiến”, thấy gia đình tôi ăn, ở không bằng mấy
con khỉ trong vườn bách thú.
Ông
bạn bèn nghĩ ngợi rồi bàn với tôi:
-
“Túng thì phải tính” với lại các cụ chúng nó chẳng đã bảo rằng - “Đói ăn vụng,
túng làm liều” đấy thôi! Cậu đừng “giữ giá làm nộm” nữa! Người ta đề ra tiêu
chuẩn, đạo đức là để khuyên “những người đang còn sống được”, nên sống theo
khuôn khổ, chuẩn mực! Nhưng khi đã không còn giữ được cái chuẩn mực cơ bản đó
là cuộc sống tối thiểu. Con người sống không bằng con vật, thì làm gì còn đạo
đức, chuẩn mực nữa?! Giữ gìn làm gì, giữ cho ai?! Ai là người có đủ tư cách để
đánh giá cái đạo đức, chuẩn mực ấy?!
Nghĩ
đi, nghĩ lại, bàn tới, bàn lui chán chê. Cuối cùng ông liên hệ để tôi bắt với
một đường dây buôn thuốc phiện. Một “lối thoát” nhanh nhất nhưng cũng nguy hiểm
nhất!
Đường
dây này còn tinh vi và kín đáo hơn cả đường dây hoạt động của một “tổ chức lật
đổ” chính quyền. Nó được thẩm tra, thử thách từng bước, từng bước một, vô cùng cẩn trọng và
chặt chẽ, không có chút sơ hở nào. Bởi nếu đường dây của “tổ chức lật đổ” có bị
lộ, thì thôi không “lật đổ” nữa! Dăm thằng bị tù, dăm thằng bị bắn. Chứ đường
dây buôn bán này mà bị lộ thì “lỗ to” và tất nhiên còn bị bắt, bị tù nữa. Hàng
ở đây là “hàng có giá” hàng triệu, thậm chí hàng nhiều triệu đồng, chứ không
phải chỉ như vài mớ rau, dăm mớ củ. Bị tù ở đây cũng không phải là tù qua loa vài
ba năm, chí ít cũng chục năm, nhiều thì chung thân có khi còn “dựa cột”(4) nữa
chứ chẳng bỡn.
Chính
vì “ý nghĩa và tầm quan trọng” của công việc như thế, nên sau khi đã được thẩm
tra rất kỹ càng các “hạng mục” từ A đến Z, tôi cảm thấy “thật sự tự hào” về sự
“đánh giá và tuyển chọn” của “tổ chức”!
***
Đó
là lần đầu tiên và cũng là lần duy nhất tôi làm “người vận chuyển” “hàng” đến
cho một người tên là Cẩn trong ngõ… nằm trên phố Hàng Buồm, Hà Nội.
Tôi
đã mua hai hộp phấn trắng ở Mậu dịch, về bỏ phấn trong một hộp ra cho con. Cái
vỏ hộp ấy nhồi một ki-lô-gam thuốc phiện, màu mắm tôm khô, được hàn kín trong
túi ni-lông, ngoài bọc lá trầu không, vì theo các bậc “tiền bối trong ngành” có
truyền lại thì thuốc phiện được bọc lá trầu không sẽ không “bốc mùi” ra ngoài
nữa. Việc
này cũng đã được “kiểm chứng”, thử đi thử lại dăm lần và được nhiều người công
nhận là “hữu hiệu".
Bước
vào ngõ..., tôi dựng xe ngay đầu ngõ, không khóa rồi xách hai hộp phấn bình tĩnh
bước vào căn nhà nhỏ của ông Cẩn, cách chỗ dựng xe dăm mét.
Như
đã hẹn trước, ông Cẩn đang ngồi đón tôi trong gian nhà nhỏ, tuềnh toàng.
Đó
là một người đàn ông nhỏ thó, nói chính xác hơn thì đó chỉ như một cái “hình
nhân” ở Hàng Mã, người ta mới mang về. Cái đầu chỉ còn trơ lại cái sọ dừa mà
trên đó người thợ mã đã điểm lên một đôi mắt trắng dã cùng với đôi môi thâm
thì, in trên làn da bềnh bệch, làm cho ta khi nhìn vào có cảm giác mờ mờ, ảo ảo
nửa thực, nửa hư.
Ông
ta đang ngồi xổm trên một cái phản gỗ ọp ẹp, đầu gối quá tai. Mặt phàn để bừa
bộn ngọn đèn dầu lạc nhỏ leo lắt, cái tẩu hút cũ kỹ, bộ ấm chén cáu bẩn.
Không
nói gì, tôi đùn hộp phấn có để “hàng” về phía ông. Ông ta cũng không nói câu
nào, cầm hộp rồi chậm chạp leo lên căn gác xép. Chiếc thang nhỏ ọp ẹp phát lên
những tiếng cọt kẹt nho nhỏ như tiếng rên.
Dăm
phút nặng nề trôi qua. Đang mải hồi hộp vì căng thẳng thì tôi thấy ông bước
xuống tay cầm cái hộp đưa trả, nói ngắn:
-
Về đi, lần này không lấy!
Tôi
định nói câu gì đó, nhưng ông ta ngăn lại, rồi dúi cái hộp vào tay tôi lần nữa.
Tôi
cầm lấy “hàng” quan sát chung quanh thấy vẫn bình thường, nhưng trong lòng thì
run lên vì sợ hãi không đâu. Chậm chạp quay lại chỗ chiếc xe đạp, lóng ngóng
mãi mới buộc “hai hộp phấn” vào poóc-ba-ga. Tôi dắt xe ra khỏi ngõ, hai tai
căng ra để theo dõi chung quanh xem xem có động tĩnh gì! Tôi cứ dắt xe đi bộ
như thế khoảng dăm, bảy bước nữa rồi mới nhảy lên xe đạp hối hả.
Được
một quãng khá xa, tôi rẽ vào một quán nhỏ ven đường, ngồi uống chén nước vừa để
quan sát xem có ai đuổi theo mình không! Khi thật yên tâm tôi mới tiếp tục đạp
xe về nhà.
Về
đến nhà mới biết mình quả thật bị một phen hú vía, đúng là “thần hồn, nát thần
tính” chứ nào có chuyện gì đâu! Tuy nhiên mồ hôi cũng toát ra ướt đẫm cả áo
quần, hai chân bủn rủn như vừa phải đi bộ cả ngày đường vất vả!
Trả
lại “hàng” cho chủ xong rồi, nhưng cái sự “thắc mắc” tại sao ông Cẩn hôm ấy
không nhận “hàng” cứ lởn vởn trong óc tôi khá lâu.
Mãi
sau này tôi mới biết do “hàng” không đúng tiêu chuẩn như đã “thỏa thuận”. Hai
bên từ chối nhau, nhưng tôi lại biến thành “vật thí thân” của họ.
Từ
đó tôi không được “dùng” và cũng không “dám” làm “người vận chuyển” lần nào
nữa.
Khi
bình tĩnh suy nghĩ lại, tôi mới hiểu ra rằng không phải ai cũng có thể “đói ăn
vụng, túng làm liều” được, dù có muốn làm mấy đi nữa!
Giả
dụ hôm ấy tôi bị bắt, thì mất việc làm là tất nhiên rồi, nhưng sau này con
cái học hành làm sao, khi chúng mang cái án tích của bố trên đầu “tội phạm buôn
bán thuốc phiện”.
Có
lẽ tôi không có cái “tố chất” để “tham gia” việc này. Chẳng biết thế là may hay
không may nữa?!
“Nàng Tiên nâu” không chịu “dung nạp”(6) tôi
vào hàng ngũ “tay chân” của “nàng”!
Hạnh
phúc thay những người chịu an phận sống trong nghèo khổ.
Thế
rồi cuộc sống cứ thế trôi đi.
Tôi
và gia đình tôi vẫn cứ tồn tại trong nghèo khó, trong bẳn gắt và tủi khổ.
Ông
cha chúng ta chẳng đã nói: “cái khó bó cái khôn” đó thôi.
Hà Nội,
2015.
(1) Nàng Tiên
nâu: Từ khác nói về thuốc phiện
(2) Giật gấu vá
vai: Hoàn cảnh khó khăn, phải lấy tạm chỗ này đắp vào chỗ khác
(3) Tooc-si: Torchis:
đất nhồi rơm (tiếng Pháp)
(4) Dựa cột: Bị
trói vào cột bắn ngoài trường bắn, đối với phạm nhân bị xử tử hình.
(5) Po óc-ba-ga: Porte bagages (tiếng Pháp) cái đèo
hàng
(6) Dung nạp: Nhận
vào làm thuộc quyền của mình.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét