Sau chuyến “thử vận may” mong đổi đời làm “người vận
chuyển thuốc phiện” không thành. Ông bạn tôi lại bàn là đi buôn pháo, vì ông có
người quen trong Bình Đà(1).
Pháo lúc bấy giờ mới có lệnh quản lý, nhưng chưa
nhiều người biết và quan tâm. Vì thế ở các chợ to như chợ Đồng Xuân, chợ Mơ vẫn
có người buôn bán pháo.
Pháo lúc bấy giờ đã là một “mặt hàng” được Nhà nước
quản lý, dù nó không có “giá” và “tầm cỡ” như thuốc phiện. Song cũng không phải
ai cũng có thể “đi lại” được với nó dễ dàng. Vì thế người nào đứng ra “đỡ đầu”
cũng phải có “thế” ra sao mới “có thớ” để đứng ra “bảo lãnh” và giới thiệu.
Mò vào tận Bình Đà đất pháo, lại được ông bạn dắt
vào tận nơi. Nên tôi được người quen trong làng rất đon đả, nhiệt tình.
Công việc chỉ có thế này, tôi “đóng” pháo, rồi đèo
xe đạp đến chợ Đồng Xuân bán buôn cho họ. Như vậy ngày nghỉ tôi vào Bình Đà từ
sáng sớm, kẽo kẹt đạp xe về Hà Nội, thì cũng là chiều tối.
Thế là “mua tận gốc, bán tận ngọn”. Nhưng vì chỉ có
cái xe đạp cà-tàng, vốn lại ít nên mỗi lần cũng chỉ chở được dăm chục, quá lắm
là gần trăm bánh pháo tép loại nhỏ. Vì thế kể cả công vận chuyển, mỗi chuyến
cũng chỉ kiếm được chút ít.
Hồi ấy, ông bạn thân của tôi ở Hải Phòng lên Hà Nội
học cao học. Ông có cả chị và cô em gái ở trên phố nhớn, nhưng ông không ở, mà
lại xuống nhà tôi tận Cầu Giấy. Vì quá chật chội nên bố mẹ tôi đã mua rồi dọn
lên khu nhà nhỏ Lắp ghép mà dân thường gọi là “kiểu nhà chuồng chim” trên
Trương Định nên mới có chỗ cho bạn. Vợ chồng tôi đi làm cả ngày, thằng con nhỏ
gửi nhà trẻ, nên ở đây tuy có khổ hơn nhưng được cái thoải mái.
Suốt sáu tháng học Cao học trong Bách Khoa Hà Nội,
ông đều ở nhà tôi. Vì thế ông bạn nảy ra ý định rủ tôi cùng đi “đánh” pháo. Lúc
bấy giờ ông đang có chiếc xe mô-tô loại nhỏ và cũ kỹ mà những “cán bộ cốt cán”
Miền Bắc vào công tác Miền Nam
mang ra. Chiếc xe Sharp của Đức được chế tạo từ hồi Hit-le(2) còn cởi chuồng. Bình
xăng có hình thù như cái mình con ong, tuy bé nhỏ nhưng máy nổ to như một cái
xe tăng. Vì thế tôi gọi cái xe là Con “Ong Vò Vẽ”.
Tôi chưa được dùng xe máy bao giờ, nên cũng háo hức
lắm.
Dù xe có nổ to, hình dạng có xấu xí nhưng nó vẫn là
một chiếc xe máy. Thế là, chủ nhật ấy, anh em tôi lên đường vào Bình Đà từ sáng
tinh mơ.
Do chưa có kinh nghiệm nên anh em tôi đã đóng hơn ba
trăm bánh pháo tép, chật cứng hai bao tải dứa. Bắt đầu lên đường trở về Hà Nội
thì trời đã tối, và đúng như cái điềm gở báo trước, cái xe cứ liên tục dở
chứng. Chư a ra đến đường cái mà nó
chết máy đến hai, ba lần. có lẽ do chở nặng, lại do đường lầy sau mưa. Ông bạn
tôi rất thạo xe mà cứ phải nhảy lên, nhảy xuống liên tục hết tháo bu-gi(3) để
cọ rồi thổi phù phù, lại xả xăng(4) xem có bị tắc không.
Ì ạch mãi phải tám giờ tối mới ra đến Ba La Bông Đỏ.
Đến đúng trước đồn Bộ đội Biên phòng thì nó chết ặc một cái rồi nhất định không
chịu “nhúc nhích” nữa.
Loay hoay hơn nửa tiếng sửa đủ các kiểu, cái xe “Con
Ong” vẫn cứ “ì thân cụ” ra như “mả bố thằng ăn mày” trêu tức.
Có lẽ do hai người cứ loay hoay trước cổng đồn mãi
như “mời” mấy anh Bảo vệ “xem xét”. Anh lính gác cổng đã ra nhắc nhở chúng tôi
vài lần là phải đưa xe đi chỗ khác, vì có lệnh không cho bất kỳ ai, bất kỳ vật
gì đến gần vị trí đồn trú, phòng kẻ gian lợi dụng “tấn công”!?
Nhưng khổ một nỗi, chỉ có ở trạm gác mới có chút ánh
đèn le lói, để mà sửa chữa! Chứ chung quanh tối mò mò biết dắt xe đến nơi đâu
bây giờ?
Chả biết thế là may hay không may, chúng tôi cứ dắt
đi được một quãng lại dắt lại, để lại loay hoay, tháo ra lắp vào mãi mà cái xe
vẫn không chịu nổ máy.
Một lúc sau cỡ chín giờ đêm, lúc ấy đường quãng này
tối và vắng lắm. Một người chắc là chỉ huy đơn vị từ trong doanh trại đi ra hỏi
chúng tôi:
- Xe các anh làm sao thế, mà các anh chở hàng gì vậy?
- Xe chúng tôi không biết bị hỏng cái gì, mà chữa
mãi không nổ. Cả hai chúng tôi gần như đồng thanh trả lời.
- Các anh chở hàng gì mà tối mịt mới qua đây?
- Chúng tôi chở pháo từ Bình Đà ra.
- Chở pháo?! Các anh có biết pháo là hàng cấm buôn
bán không?
- Không!
- Các anh mang xe và hàng vào trong này, lập biên
bản!
- Chúng tôi đã phạm luật?
- Đúng thế!
Trong khi đồn cử hai chiến sĩ đem đủ giấy bút ra để
lập biên bản, thì chúng tôi đã kịp “thông cung” với nhau, thống nhất như sau.
Chúng tôi đã khai số hàng trên là của một mình tôi.
Ông bạn đi cùng không liên quan và hay biết gì. Do tình cờ gặp nhau, tôi nhờ
bạn chở giúp.
Sau khi bàn bạc, có mấy lý do “nên” thống nhất như
vậy, vì có ít pháo thì một thằng đứng ra nhận để một thằng thoát là hợp lý, chứ
có “dây” ra cả hai thằng thì tội có nhẹ hơn đi đâu. Tôi chỉ là một thằng kỹ sư
quèn, lương ba cọc ba đồng. Cùng lắm là tịch thu “hàng” và “cảnh cáo toàn cơ
quan” chứ chắc chưa đến độ phải đuổi việc! Nhưng ông bạn tôi thì khác. Nếu ông
cũng có “dính dáng” vào vụ này thì thứ nhất là bị “tịch thu” mất chiếc xe máy,
cái đồ vật đối với chúng tôi lúc bấy giờ có khi còn “quý hơn cả sinh mạng”. Thứ
hai ông bạn tôi lên Hà Nội để học Cao học, lại đi buôn lậu pháo thì chắc là “về
quê” “nghỉ” cho “khỏe”. Thứ ba ông ấy mới vừa được kết nạp Đảng, đang trong
thời kỳ “thử thách”. Nếu tham gia vụ “buôn hàng lậu” này chắc sẽ “teo mất”
Đảng.
Sau khi lập biên bản ký tá xong xuôi, sau khi kiểm
tra họ chỉ giữ số hàng và chứng minh thư của tôi. Còn ông bạn tôi được trả tự
do.
Họ còn gọi một thợ máy của đơn vị ra kiểm tra giúp Con
“Ong Vò Vẽ” của chúng tôi. Không khó khăn gì, anh thợ máy đã phát hiện ra
nguyên nhân là tại cái “boọc”(5) chụp trên đầu bu-gi. Theo anh ta giải thích
thì cái “đầu boọc” này chỉ dùng cho xe chạy xứ lạnh, nên nếu sang ta thì tốt
nhất là bỏ nó ra đấu trực tiếp dây cao áp vào đầu bu-gi. Vừa giải thích rồi với
một số động tác mau lẹ anh đã làm cho cả những người đứng chung quanh đấy mừng
rỡ, mặc cho tiếng nổ to như xe tăng của nó.
Tôi bị giữ lại ở đó một đêm, một ngày nữa. Rồi sáng
ngày hôm sau hai anh Bộ đội mặc thường phục chở tôi bằng một chiếc xe mô-tô ba
bánh về cơ quan tôi đang làm việc số 278 Hàng Bột.
Một người bảo tôi dẫn anh ta lên phòng thủ trưởng cơ
quan. Tôi xăm xăm dẫn lối. Nhưng khi tôi cầm vào nắm đấm cửa định bước vào
phòng ông Tổng Cục trưởng thì anh ta cầm vai lôi giật lại, dắt xuống xe trở về
đồn Ba La Bông Đỏ.
Lúc sau tôi được một anh đeo quân
hàm Đại Úy chắc là chỉ huy ngồi nói chuyện:
- Chúng tôi đã kiểm tra toàn bộ các lời khai của
anh. Thấy anh là người thật thà. Anh còn mẹ già là mẹ liệt sỹ, còn con nhỏ. Cả
hai vợ chồng công tác ở cơ quan tốt.
Tuy là Cán bộ nhà nước nhưng anh không hiểu luật, đi
buôn pháo là hàng cấm. Nên lần này chúng tôi tha và nhắc nhở, anh không nên tái
phạm. Anh cứ suy nghĩ đi, nếu như vừa rồi Thủ trưởng anh biết anh đi buôn hàng
cấm thì sẽ như thế nào?
Thế rồi tôi đã được mấy anh em trong đồn “đóng” lại
hàng rất gọn ghẽ và còn buộc rất chắc chắn lên xe nữa.
Trước khi để tôi đi, các anh ấy còn dặn:
- Qua Ngã Tư sở có một trạm kiểm tra nữa đấy. Đợi
giờ tan tầm hãy về. Nếu bị giữ lại, thì đừng khai là chúng tôi đã thả.
***
Về đến nhà, tôi sực nhớ đến ông anh rể. Ông ấy cũng
là Bộ đội Biên phòng mà đồng chí chỉ huy của Đồn Ba La Bông Đỏ cũng có biết ông
ta. Tôi có ý định mua “tút” thuốc lá lên đồn để cám ơn các anh trên ấy, muốn mời
ông anh rể đi để dễ nói chuyện và để ông ấy gặp lại đồng đội cũ.
Không ngờ khi tôi nói ra ý đó, thì ông anh rể tôi giãy
lên “như đỉa phải vôi”:
- Sao cậu lại lôi tôi vào việc “đốn mạt” này! Tôi là
Đảng viên mà lại có quan hệ với một thằng em vợ đi buôn pháo lậu à?
Sau này tôi mới hiểu rằng thì ra ở đâu cũng có người
này, người khác, không nên “vơ đũa cả nắm”!(6)
Hà Nội, 2015.
(1) Bình Đà: Làng chuyên làm pháo rất nổi tiếng thuộc huyện Chư ơng Mỹ
(2) Hit-le: Adolf Hitler (20/04/1889-30/04/1945. Chủ tịch Đảng Công nhân Đức Quốc gia Xã hội chủ nghĩa (Nationalsozialistische Deutsche
Arbeiterpartei, viết tắt NSDAP) từ năm 1921,
Thủ tướng Đức từ năm 1933,
là "Lãnh tụ và Thủ tướng đế quốc" (Führer und Reichskanzler)
kiêm nguyên thủ quốc gia nắm quyền Đế quốc Đức kể từ năm 1934.
(3)
Bu-gi: Bougie (tiếng Pháp) Nến đánh lửa
trong ô-tô, xe máy.
(4)
Xăng: Essence (tiếng Pháp) Nhiên liệu
dùng cho xe máy
(5)
“Đầu boọc”: Dụng cụ nối dây cao áp với đầu
bu-gi
(6) Vơ đũa cả nắm: Hồ đồ, không phân biệt kẻ tốt, người xấu
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét