Lúc
tranh bán đã kha khá chạy. Bạn bè, người quen muốn xin một cái làm kỷ niệm hay
mua vài, ba bức làm quà cho khách, khi họ có dịp ra nước ngoài công tác, họ yêu
cầu tôi là nên làm triển lãm hay có Ca-ta-lôc(1) để giới thiệu cho tiện. Làm
triển lãm thì phải có khá tiền, lại phải chạy đây, chạy đó cũng phiền ra phết.
Suy nghĩ rồi tôi đi mua một cái máy ảnh loại trung bình để chụp tranh.
Chưa
được cầm cái máy ảnh bao giờ. Tôi dò la hỏi những người quen đã chơi máy lâu năm có
kinh nghiệm rồi mới mua.
Lúc bấy giờ mới khoảng năm 1970 ở ta chỉ có
máy cơ, chứ chưa có máy kỹ thuật số như bây giờ. Mà chụp tranh cũng phải có
những phụ kiện kèm theo chứ không đơn giản như chụp người hay chụp phong cảnh.
Phài có giá căng tranh, có chân máy, có dây mềm bấm máy(2) để tránh rung, lại
phải có cả đèn rọi,…
Nhưng
tính tôi nó “phổi bò” nên nếu để sắm đủ ngần ấy thứ thì không chịu được. Đã
định là làm ngay. Tôi giải tranh ra chỗ sáng rồi cầm máy hướng song song với
tranh mà chụp. Lúc đầu chụp mười pô(3) chỉ hỏng một, hai cái. Thế là “thỏa mãn
bần cố nông” rồi còn đòi hỏi gì nữa. Sau quen đi tôi chụp là được. Ham quá
thành sau tôi mua đến bốn máy ảnh các cỡ, cả ống tê-lê(4) dài ngoẵng, có thể
thu hình ảnh từ xa hàng trăm mét lại.
Có
bộ ảnh chụp toàn bộ tập tranh của mình, tôi cũng chẳng in ra ca-ta-lô làm gì
nữa, phiền hà, tốn tiền. Mang tập ảnh đi theo cũng chẳng nặng nề gì.
Rồi
tôi nảy ra ý đồ. Thuê mẫu khỏa thân, chụp ở nhiều tư thế. Sau chọn lọc lại, tìm
một vài tư thế đẹp nhất, làm mẫu để vẽ. Như vậy vừa đỡ tốn thời gian, vừa đỡ
tốn tiền. Bởi mẫu khỏa thân thuê rất đắt, cứ một giờ làm mẫu thì giá trong hội
Mỹ thuật đã gần một tháng lương của một kỹ sư cao cấp. Mà vẽ thì phải qua tất
cả mọi bước như chọn bố cục, chọn màu chủ đạo, rồi phác thảo, cũng kỹ lắm, chứ
không thể “sơ sài” mà bỏ qua bước nào được.
Một
số họa sỹ không thích cái kiểu làm việc này. Họ cho rằng đấy không phải là sáng
tác mà là vẽ theo ảnh và nó không tạo thành cảm xúc như vẽ người thật.
Quả
thật thì vẽ kiểu này không nhiều cảm xúc và không thật như được vẽ trước người mẫu.
Nhưng khi chụp ảnh thì lúc đó cũng đã “hóa thân” thành một nghệ sỹ rồi, cũng
đầy cảm xúc để sáng tác rồi còn gì. Tâm hồn cũng lúc lắc ra trò rồi còn đòi
thêm cảm xúc gì nữa? Có mà đứt mẹ nó giây thần kinh duy nhất, thì xong!
Thế
là tôi lại học thêm được cái nghề “phó nháy”(5) nữa.
Đầu
tiên chỉ có mục đích chụp tranh, sau tôi nảy ra chụp cảnh, chụp người và còn
nhớ hồi đi Dự án Tư vấn Giám sát Cầu đường mãi Lạng Sơn tôi mang máy đi chụp
cảnh và thỉnh thoảng “nổ” vài “pô” về công trình về “cúng” cho “sếp”. Thấy thế
ông kỹ sư hiện trường người Nhật “sướng lên” bắt cô Sơn chánh văn phòng hàng
tháng cấp cho tôi mấy cuộn phim và phải trả cả tiền rửa ảnh nữa. Ít lâu sau ông
ta về Nhật thăm gia đình mua cái máy kỹ thuật số nho nhỏ mà lúc ấy đã có giá
mấy nghìn đô-la Mỹ giao cho tôi mỗi khi tôi ra hiện trường. Từ chối kiểu gì
cũng không được, tôi phải lấy lý do, nhỡ như làm hỏng máy thì tôi không có tiền
đền!
Ông
ta cười nói:
-
Tôi không bắt ông đền đâu, lương tôi gần ba mươi nghìn đô-la Mỹ một tháng thì
cái máy ảnh này đáng kể gì! Vả lại tôi cũng đã được Jibic(5) thanh toán cho hai
phần ba tiền mua máy rồi, đừng lo!
Cứ
thế, nhiều năm cầm máy tôi đã chụp được những tấm ảnh trông cũng khá “lọt mắt”.
Tôi được anh em trong “ê-kíp”(7) yêu, ngoài cách ăn ở gần gũi với mọi người còn
vì khi đi hiện trường tôi thường đem theo cả ống “tê-lê” để chụp xa và đặc biệt
cho anh em trẻ đang “tuổi ăn, tuổi lớn” nhìn trộm các cô gái thiểu số tắm ở bến
sông xa. Họ đã yêu mến gọi tôi là “nhà nhân đạo học”! Hồi trẻ thì tôi cũng háo
hức “nhòm” lắm, nhưng giờ già rồi, độ ham muốn chẳng còn là mấy nữa!
Tuy
nhiên chụp máy cơ thì phải nắm vững được mấy yếu tố như cự ly, ánh sáng và tốc
độ. Lúc đầu chụp cũng khó khăn ra phết. Phải ước lượng tương đối chính xác
khoảng cách từ đối tượng định chụp đến máy, (và để chắc ăn thì phải có người đo
hộ). Độ mở ống kính (tức là ánh sáng) cũng phải có kinh nghiệm (nếu có máy đo
sáng thì chắc ăn hơn)(8). Trời nắng, ánh sáng nhiều, phải khép ống kính nhỏ lại,
ngược lại trời tối hoặc chụp trong râm thì mở ống kính to ra (người ta thường
ví độ mở của ống kính như con mắt người). Cuối cùng là tốc độ chụp. Tốc độ gắn
liền rất mật thiết với độ mở của ống kính, ví như đi xe máy tay côn, tay ga
phải phối hợp nhịp nhàng. Vì thế người chụp máy cơ thuần thục thường được ví là
nghệ sỹ!
Để
chụp được một tấm ảnh, thường không khó, nhưng để chụp được một tấm ảnh đẹp thì
cũng rất khó. Người chụp ảnh chuyên nghiệp đầu tiên phải nhuần nhuyễn các bước
kỹ thuật nói trên. Nhưng khi giơ ống kính lên để bấm máy còn phải biết “chớp
lấy” thời cơ. Vì thế muốn có ảnh đẹp và tự nhiên phải nói là “chộp” ảnh mới
đúng.
Bây
giờ với sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật máy ảnh kỹ thuật số đã giải quyết hầu
hết các kỹ năng phức tạp trên, tạo ra nhiều thuận lợi. Có thể không cần đến các
bước chụp như khi dùng máy ảnh cơ. Mua một cái máy dạng trung trung, ngắm
cho đối tượng chụp lọt vào khuôn hình, giữ cho vững tay là có thể bấm máy. Nó
lại có cái tiện nữa là không cần tốn tiền mua phim, không phải chọn loại phim
phù hợp cho đối tượng chụp từ 100 ASA đến 500 ASA(9) như dùng cho máy cơ. Cái
lợi lớn nhất là không tốn chỗ lưu trữ phim. Tất cả có thể “lưu” vào một thẻ nhớ,
hoặc trong bộ nhớ của máy tính. Chỉ cần một thẻ nhớ có dung lượng nhỏ là 2GB(10)
đã chứa được 400-500 ảnh rồi. Đặc biệt hơn cả là mọi người đều có thể chụp ảnh,
từ con trẻ đến bà già, không cần “điêu luyện” như một “nghệ sỹ” như khi chụp
ảnh bằng máy cơ.
Nhưng
vẫn phải nhắc lại là để chụp được ảnh đẹp thì phải biết chọn đối tượng để chụp
và phải biết “chộp” lấy hình.
Hà Nội, 2015
(1) Ca-ta-lôc: Danh sách giới thiệu hàng hóa.
(tiếng Anh: Catalogue)
(2) Dây mềm bấm máy: Tiếng Pháp: Déclencheur souple - Anh: Cable release
(3) Pô: pose (tiếng Pháp): Kiểu ảnh
(4) Tê-lê: ống kính chụp xa
(5) Phó nháy: người chụp ảnh
(6) Jibic: Tập đoàn Nhật Bản đầu tư trong lĩnh
vực Xây dựng ở Việt Nam xây dựng các công . trình Giao thông mà ông Tanaka là
thành viên làm kỹ sư hiện trường quản lý công trình
(7) Ê-kíp:
Đội ngũ cùng làm chung một việc với nhau. Tiếng Pháp: Esquipe.
(8) Máy đo sáng: Tiếng Pháp: Commande du
posemètre (cellule couplée) – Tiếng Anh: Exposure meter (needle-matching)
(9) ASA (hoặc ISO): độ nhạy sáng của phim chụp -
Tiếng Anh
(10) GB: Gi-ga-bai= 1.024 mê-ga-bai (Tin
học)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét