Tôi có ông bạn là Phạm Dư Phước, cùng học phổ thông
với nhau cách đây sáu mươi năm. Chiết tự(1) mà nói là ông Thừa Phúc họ Phạm.
Giờ thì ông đã về với tổ tiên, mong linh hồn ông được siêu thoát.
Chả biết các cụ khi sinh ra ông có xem tướng số, hay
cúng bái ở đâu để ông được hưởng phúc, mà suốt đời ông luôn không chỉ được
hưởng phúc, mà là phúc lộc tràn đầy!
Các cụ sinh ra ông có sản nghiệp nhất nhì ở Hải Phòng,
nên khi nhỏ ông được sống trong nhung lụa. Tính tình ông lại hòa nhã, nhẹ
nhàng, không nổi nóng, to tiếng, đặc biệt không làm ai phật ý bao giờ.
Học xong Phổ thông Trung học ở Hải Phòng ông thi vào
Sư Phạm Hà Nội. Lúc bấy giờ ở Hải Phòng chưa có trường Đại học. Ai đã qua Trung
học mà muốn học nữa đều phải lên Hà Nội. Tốt nghiệp Đại học ông được cử lên
Lạng Sơn để dạy học.
Ít lâu sau ông làm quen với một cô nhà báo địa
phương và thành hôn cùng nàng. Đẻ một loạt bốn mụn con gái. Lương giáo viên không
cao, nhưng cơ bản là ông vẫn giữ cái “nề nếp gia phong” khi còn ở với bố mẹ: sáng
cà-phê, tối rượu thuốc, không bao giờ bỏ qua, không bao giờ sơ suất. Vì thế ông
không đỡ đần cho vợ được đồng kẽm nhỏ nào.
Lương nhà báo, chứ có phải lương nhà buôn đâu mà
kham được cái cảnh một người làm, năm, sáu người ăn. Vì thế nổ ra bất đồng, xảy
ra lủng củng là tất nhiên, là không thể dẹp yên đi được!
Cuối cùng họ đành chia tay nhau. Anh một đàng, ả một
nẻo. Từ chỗ “đầu gối tay ấp”, cô “nhà báo kiêm chủ quán phở bò” ngon nổi tiếng
Lạng Sơn thề đến chết không thèm nhìn mặt anh chồng cũ “chán ngắt” này nữa!
Ông bạn tôi quay về Hà Nội, chứ không về Hải Phòng
nữa, vì các cụ thân sinh ở Hải Phòng đã mất cả rồi. Trước khi ra đi các cụ vẫn
nhớ đến ông con trai yêu quí của mình và để lại cho ông một khối tài sản kếch
xù. Ông trở thành người giàu có nhất trong tất cả những người mà tôi từng quen
biết.
Nhưng dù giàu có đến đâu, mà không làm việc để có
thu nhập đều đều dù nhỏ thì cũng không mấy mà trắng tay. Các cụ chẳng đã nói:
“miệng ăn, núi lở” đấy thôi. Mấy năm sau tiền trong “két”(2) đã cạn, ông đành vay
xổi ít tiền, nhờ người quen chạy chọt xin cho đi dạy học lại.
Dăm năm sau do tính cách của ông, do cách ứng xử rất
nhẹ nhàng, tế nhị và sự hiểu biết nhiều mặt của ông, bà vợ ông Giám đốc Sở Giáo
dục mê ông như điếu đổ. Bà tình nguyện “biếu không” cho ông một cậu con trai và
thề thốt sẽ “theo” ông suốt đời.
Sự việc bị vỡ lở, ông buộc phải về “mất sức”. Bà vợ
ông Giám đốc Sở Giáo dục bấy giờ cũng đành nuôi con một mình, chứ còn biết tính
sao? Dù còn rất yêu nhau, họ cũng không thể về ở với nhau được. Một bà “mệnh
phụ phu nhân” thất thế bị hất ra vỉa hè cùng với một ông giáo “mất sức” lương
không đủ chi dùng hằng ngày, thì khó có thể ghép thành một tổ ấm hạnh phúc
được!
Để tồn tại, ông bạn tôi mở lớp dạy tiếng Pháp, dạy Đăng-sanh(3)
và đi làm phụ cho một “ông lang băm rất nổi tiếng” ở Bờ Hồ, ông lang này quảng
cáo “rùm beng” là có thể chữa lành tất cả các bệnh trên đời. Vì thế ông ta cực
kỳ đông khách, từ đó thu nhập của ông bạn tôi cũng khá. Thế rồi như gặp phải
cái “dớp” cũ. Bà vợ ông lang kia cũng lại “lăn xả” vào ông bạn tôi. Cũng may bà
ta chưa kịp “biếu” thêm cho ông đứa con nào thì đã bị phát hiện.
Chưa gây ra “hậu quả gì nghiêm trọng”, nhưng ông thì
phải nghỉ việc là dĩ nhiên rồi. Đang phải “bóp bụng” bữa ăn, bữa nhịn để “chờ thời
cơ”, thì ông tình cờ gặp được một cô gái cực kỳ tháo vát, học rất giỏi, biết
một lúc ba, bốn ngoại ngữ nhưng phải cái tính tình lại táo tợn như một anh đàn
ông thô thiển, bất kể gì cũng “văng tê, bạt mạng”, chưa biết kiêng nể một cái gì.
Vì quá “mảng chơi” nên cô đã sắp sửa bước sang “thì
quá khứ”(4). Rồi khi chán nản cô đang có ý định “xuống tóc đi tu”.
Ông ngỏ lời và không ngờ cô gái kia “Uẩy me-xừ”(5)
đánh “cốp” một cái.
Thế là ông lại có người “đầu gối, tay ấp” lần thứ
tư.
Cô Tư của ông đã thử qua nhiều việc, từ dạy học đến
buôn bán nhưng thấy chẳng đâu vào đâu cả. Cuối cùng cô ngồi nhà viết sớ. Đúng
khi dân mình đã dần có bát ăn bát để, dân trí lại thấp, nạn mê tín quàng xiên
tràn lan như một nạn dịch. Vì vậy cô kiếm từ nghề viết sớ này không chỉ đủ ăn,
mà còn xây được cả nhà giữa Hà Nội nữa. Khi về sống với nhau, cô không bao giờ
thèm “đếm xỉa” đến “mấy đồng lương bọ” của một giáo viên về mất sức như ông. Ông
thì vẫn giữ “nếp nhà” “tối rượu Săm-banh(6), sáng sữa bò” đều đặn.
Cô vợ thứ tư của ông lại là em gái một ông bạn thân
của tôi ở cơ quan. Thành ra chúng tôi cũng hay qua lại chơi bời với nhau. Một
hôm đến thăm nhà mới của hai người, tôi được cô vợ khoe là vừa làm ngôi nhà bốn
tầng này hết ngần này tiền, cô cho đón thằng con riêng của chồng về nuôi, và
cho hẳn nó một tầng riêng.
Trong khi uống nước, nói chuyện, cô kể vui với tôi:
- Bác xem em phải thuê ba, bốn người viết sớ, mà em
nhờ anh Phước giúp, anh ấy nhất định không làm!
- Sao thế? Tôi hỏi lại bạn cho có chuyện.
- Tôi đã có lương mất sức rồi, việc gì phải làm thêm
nữa, cho mệt!
- Lương dù cao, ăn không hết, cũng nên cất nhắc chân
tay giúp vợ con một tí chứ. Tôi nói đỡ vào.
- Có mà ăn không hết! Cô vợ bĩu môi nói. - Lương mất
sức có một trăm bốn bảy nghìn. Tiền học thêm của thằng con đã là một trăm
nghìn. Còn bốn bảy nghìn, một tháng hai cha con ăn làm sao hết được, bác nhỉ?!
- Không thèm chấp với đàn bà! Ông bạn tôi nói vừa đủ
để chỉ có hai người nghe được, rồi lại cười nói vui vẻ như không có chuyện gì
xảy ra cả.
Cặp vợ chồng mới này có thêm một cô con gái rất xinh
đẹp và thông minh. Cô bé sở hữu cái gen xinh xắn và nhỏ nhẹ của cha, cộng cái gen
thông minh, tháo vát của mẹ.
Cô bé học rất giỏi và là niềm tự hào của cả gia tộc.
Thằng con giai duy nhất học giỏi tự nhiên, nhưng khi
thi vào Đại học thì nó lại xin thi vào khoa Trung văn. Khi ra trường nó giúp Dì
Tư làm sớ. Với kiến thức đã qua Đại học của nó, việc viết sớ được nó phát triển
thành một dịch vụ phục vụ cho rất đông khách hàng cả Bắc, Trung , Nam .
Nó kiếm tiền cho bố mẹ và khi lấy vợ, nó đã mua được
nhà riêng cho mình và chỉ ít lâu sau mua một ngôi nhà khác cho mẹ đẻ, một cách
đàng hoàng.
Bỗng một hôm, bà Hai, bà vợ cũ của Giám đốc Sở Giáo
dục, người đã “biếu không” cho ông một cậu con trai “miễn phí”, đến mách với Dì
Tư là có một cô ế chồng, khá xinh xẻo, tuổi cỡ băm, gần chỗ bà ở, đang dính với
ông Phước “như keo”. Nếu không có “biện pháp phòng bị”, lỡ có gì sơ sẩy, thì
khó mà “lường được hậu họa”!
Dì Tư rất bình tĩnh đến gặp cô gái nọ, ôn tồn hỏi:
- Em đã “phải lòng” anh Phước nhà chị rồi phải không?
- Chị đã “thẳng thắn” và “chơi đẹp”, em cũng xin
“cởi ruột, cởi lòng” cùng chị! Vâng em yêu anh Phước với tất cả tình yêu em có
trên đời này. Em quyết “theo” anh đến tận “chân trời, góc biển”. Không trở lực
nào có thể chia rẽ được chúng em!
- Em yêu anh Phước nhà chị vì cái gì vậy?
- Em chính là học viên lớp “đăng-sanh” đầu tiên do
anh Phước dạy cách đây đã mấy năm trước. Từ đó trong em chỉ có bóng hình anh, dáng
bước nhịp uyển chuyển, cách ôm eo hờ hững mà thân thiết! Rồi điệu nhạc du dương
đến mê hồn: điệu Van Ba-lat(7) Dòng Đa- nuýp xanh(8) của Johann Strauss II(9).
- Nếu em đã quá “nặng tình và say đắm” anh Phước đến
như thế, thì chị xin tình nguyện nhượng lại. Nhưng em hãy hứa với chị là phải
chăm sóc anh cho thật chu đáo. Nếu để anh ấy khổ, thì chị sẽ tìm đến “hỏi
chuyện” em đấy! Lúc ấy không sẽ dễ chịu chút nào đâu!
Sau buổi gặp gỡ ấy, cô gái trẻ quá “nể” “chất cao
thượng và chịu chơi” của Dì Tư, nhưng cái chính có lẽ là cái số của ông chỉ có
đến Bốn Bà, nên đành gút-bai(10) ông bạn tôi trong nuối tiếc. Vì thế ông đã “hạ
cánh an toàn”, ông lại trở về với vợ con và vẫn nguyên là “kiểu mẫu” một người
cha, người chồng rất mực đức độ, ngoan hiền!
***
Năm rồi ông yếu hơn, bà vợ lo từ cốc sữa buổi sáng,
đến bát phở buổi trưa. Cái khăn mặt lau mặt cũng vợ đưa đến tận tay. Ông cứ
ngồi một chỗ, thành ra ít lâu sau đi lại rất khó khăn.
Chiều hôm nọ đến chơi, thấy ông ngồi xổm trên một
cái phản gỗ tạp, kê ở một xó cửa nửa sáng, nửa tối, bao
quanh nào là cốc, chén, phin pha cà phê.
Thân hình gày guộc, đầu gối quá tai, lại chỉ mặc mỗi chiếc quần đùi rộng, nên
tôi “nhòm” thấy cả “bộ tam sự” còn khá “hoành tráng” cứ “thập thò” như cố tình
chọc tức người đối diện!
Tôi hỏi đùa:
- Nhà cửa khang trang, giường chiếu sạch sẽ ông
không nằm, sao lại ra đây ngồi trên tấm phản ở xó cửa như thằng nghiện vậy?
- Nói mãi mà có được đâu bác! Ông ấy giở chứng chết
hay sao ấy, cứ nằng nặc đòi bằng được ra nằm ở đấy, nói là cho nó thoải mái! Bà
vợ vội phân trần.
Tôi hỏi bạn:
- Thật thế sao?
Ông bạn tôi cười rồi nhỏ nhẹ nói:
- Suy nghĩ của “bậc trượng phu” thì làm sao những
“kẻ phàm phu” hiểu được!?
- Thế ngồi ở đây thì “ngài trượng phu” thấy thế nào,
có gì khác hơn khi nằm trên cái đệm sang trọng đằng kia không?
- Ngồi trên phản cứng, ở chỗ “tranh tối, tranh
sáng”, ta sẽ nhìn mọi vật rõ ràng hơn, khách quan hơn!
- Quả thật là “tầm cỡ” của một bậc “vĩ nhân”! Tôi
thốt lên kinh ngạc.
Ông vẫn vui vẻ kể chuyện trên trời, dưới bể, nói là
dạo này đã yếu lắm rồi nên không đi thăm các bạn bè được nữa.
Tôi nói vui với ông:
- Tôi cũng biết một ít về y thuật. Chỉ quan sát qua
cũng biết bệnh của ông!
- Thế tôi bị bệnh gì? Hôm kia bà vợ tôi đã đưa tôi
đi khám tổng thể ở Khoa Lão Viện Y học Trung ương. Các Giáo sư đầu ngành cũng
đã hội chẩn và có kết luận rằng tôi bị lão hóa tổng thể chỉ được tĩnh dưỡng,
tránh suy nghĩ và vận động!?
- Tôi thì không nghĩ vậy!
- Thế theo ông thì tôi bị bệnh gì? Có chữa trị được
không?
- Ông mắc chứng “lười bẩm sinh”. Làm sao mỗi ngày ông
không đi lại nửa tiếng vào buổi sáng được chứ? Đi lại máu huyết mới lưu thông,
ăn mới ngon, ngủ mới sâu! Ông cứ thử nghe tôi độ nửa tháng là sẽ thấy sức khỏe
tốt hơn hẳn.
- Ông chỉ được cái “tào lao”. Giáo sư bảo là hạn chế
vận động. Ông thì lại bảo là phải vận động?! Nghe ông có “đổ thóc giống” ra mà
ăn à?!
- Mấy “me-xừ”(11) giáo sư này chỉ chữa cho người
bệnh bình thường được thôi, còn ông là một “con bệnh đặc biệt”! Rất đặc biệt,
ông có biết không?
- Sao ông lại nói về bệnh tật của tôi y như ông làm
trong ngành y tế lâu năm thế!
- Tôi không giỏi chữa bệnh, mà tôi giỏi chữa tật!
- Tật gì?
- Tật lười biếng và ỷ lại.
Tôi giả sử thôi, bây giờ không có vợ nuôi. Lại có
người ra điều kiện cho ông, hằng ngày ông phải đi từ đây đến Bờ Hồ, mới cho ông
ăn, thì ông có làm được không?
- Chết thì chịu vậy, chứ đi từ nhà ra chợ ngay cạnh
đây còn khó khăn, thì làm sao đi đến tận Bờ Hồ được!?
- Thế sao cách đây ít lâu ông vẫn hằng ngày đạp xe
lên làm cho ông lang băm Cứu Thế tận Bờ Hồ?
- À, đấy là chuyện đã qua.
- Ông không nhớ câu: “đói đầu gối phải bò” à? Bây
giờ ông không bị đói đấy thôi!
- Cũng có thể?
Ông cứ sống như thế dăm năm nữa, với sự nâng giấc,
hầu hạ của vợ , dù hằng ngày phải nghe vợ nói như chì chiết. Ông không hề nao
núng và chẳng bao giờ “vùng lên đấu tranh” cả.
Thế rồi ông “ra đi”, ở tuổi bảy mươi tám với sự
thương xót của những người thân, của bốn bà vợ và sáu đứa con.
Bốn cô con gái lớn đã trưởng thành và cực kỳ thành
đạt, từ Lạng Sơn về Hà Nội, nói với Dì Tư:
- Dì cho phép chúng con đứng ra lo toàn bộ tang lễ
cho cha.
Cả bốn bà lúc khách đến viếng đều khóc ngất và đều
nói “những lời có cánh” về ông chồng thân yêu của họ:
- Nhà em sống hiền lành, hết lòng yêu thương vợ con,
chưa bao giờ biết nói dối và chưa bao giờ biết “cãi lại” vợ!
Tôi ngước nhìn lên bàn thờ, qua làn khói hương nghi ngút thấy ông
như mỉm cười ghi nhận!
Bạn bè ông và cả tôi đều nghĩ rằng trên đời này
chẳng ai sung sướng và hạnh phúc bằng ông. Có ai đươc cả bốn người phụ nữ
thương yêu hết mực, được cả sáu đứa con hiếu kính như vậy không?
Ông đúng là ông Thừa Phúc!
Hà Nội,
2015.
(1) Chiết tự: Phân
tích chữ Hán ra từng yếu tố.
(2) Két: Tủ, hòm bằng sắt từ chữ Caisse (tiếng Pháp): hòm, thùng
(3) Đăng-sanh: Dancing: Tiệm nhày đầm (tiếng Pháp)
(4) Thì quá khứ: Động từ của các nước như Anh, Pháp đều chia. Trong đó
thì quá khứ là thì đã qua
(5) Uẩy me-xừ: Oui monsieur (tiếng Pháp): Vâng, đồng ý, vâng thưa ông
(6) Rượu Săm-banh: Bouteille de Champagne (tiếng Pháp)
(7) Van ba-lát: Valse Ballade (tiếng Pháp) Điệu nhảy trữ tình
(8) Dòng sông xanh: The Blue Danube: Dòng Đa-nuýp xanh của Johann
Strauss II
(9) Johann Strauss II: nhạc sĩ thiên tài người Áo. (10/1825 - 06/1899)
(10) Gút-bai: (tiếng Anh); Good by: Tạm biệt, từ biệt
(11) Me-xừ: Monsieur (tiếng Pháp): Ông, ngài
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét