tháng 6 10, 2015

Cô công nhân bị quấy rối

Tôi đang chuẩn bị để theo George, tay đội trưởng to lớn người da nâu ra hiện trường để kiểm tra sản xuất thì cô Tỵ nhảy bổ vào ôm lấy tôi khóc như bị ma làm.
Gỡ mãi mới thoát ra được hai cánh tay ôm ghì rất chặt của cô gái, tôi dỗ dành:
- Bình tĩnh lại, có chuyện gì thì cứ rừ từ mà nói.
- Em không thể bình tĩnh được. Nó lôi em xềnh xệch vào bụi rồi tụt quần em ra.
- Thế nó đã làm gì chưa?
- Chưa. Em giằng tay nó ra không được, em nắm lấy… nó bóp cho một cái rõ mạnh, nó kêu toáng lên rồi buông em ra, ôm lấy “bọng” mà nhăn nhó.
- May quá, chưa làm sao. Thế em có võ à?
- Võ cái con khỉ gì! Nhưng mà em ức lắm.
- Ừ, thôi nín đi rồi uống nước cho bình tĩnh lại. Nghỉ đi đến chiều hãy đi làm!
Cô công nhân trẻ vẫn sụt sịt một lúc nữa, thỉnh thoảng lại nguýt tôi một cái, y như tôi là người gây ra cái chuyện làm cho cô phải bực mình ấy.
Tay Đội trưởng có vẻ đã sốt ruột, chốc chốc lại xem đồng hồ có ý giục giã tôi lên xe. Tôi đành xoa xoa vào hai vai cô gái trẻ để an ủi rồi nhanh chóng leo lên chiếc xe Jeep mà riêng Đội trưởng đặc quyền được dùng, sáng sáng đi vòng quanh hiện trường đang làm việc để kiểm tra và trở về trước giờ lao động mà phân công cho các đơn vị. Vì vậy công việc được phân rất cụ thể và sát với thực tế. Cách làm việc này cực kỳ hiệu quả và thấy rõ cái trách nhiệm của một Đội trưởng sản xuất.
Đường trên tuyến, được thiết kế các lớp cấp phối không có gì đặc biệt so với các cấp phối ở nhiều công trình đường nơi khác. Nhưng nhiều người cứ thắc mắc vì sao tuyến đường ấy từ khi khởi công năm 1974 dến nay đã trên năm mươi năm mà không bị xuống cấp nhiều. Từ lúc chỉ mới có phần nền đường mà ô-tô tải chở vật liệu đã chạy với tốc độ trên trăm ki-lô-mét/giờ.
Hơn năm sau khi tôi đã được Tổng cục trưởng Đặng Hạ gọi về công tác tại văn phòng Cục hỏi rằng:
- Tại sao đến cái Quyết định thứ ba anh mới chịu về Văn phòng Cục?
- Thưa ông, hai cái Quyết định trước tôi chưa hề được đọc.
- Hiện tượng này, chỉ có ba cách lý giải là:
  * Một là: Anh được đơn vị công tác yêu quí muốn giữ lại để làm việc.
  * Hai là; Anh đang có mưu đồ gì đó, muốn ở lại Công trường để thực hiện.
  * Ba là: Anh coi thường Quyết định của Cục.
- Thưa ông, như ông đã biết, trước khi tôi lên Công trường nhận nhiệm vụ, tôi đã trình bày hoàn cảnh khó khăn của gia đình tôi. Tôi chỉ mong sớm về Hà Nội để được gần gia đình. Vì thế không có lý do gì làm tôi trì hoãn không thi hành Quyết định của Cục.
- Anh nói cũng có lý. Thôi tạm gác chuyện này lại, sẽ nói sau. Tôi hỏi anh là trong thời gian làm Kỹ sư trưởng trên Công trường 74, anh đã học được những gì về cách làm việc của Cu Ba?
- Thưa ông, theo tôi thì ta không thể học được gì từ cách làm việc của Cu Ba!
- Anh dám ăn nói với tôi như vậy à? Ông Cục trưởng đỏ mặt nói to.
- Thưa ông vì làm công tác kỹ thuật, nên tôi chỉ biết trình bày sự thật cho ông nghe. Nếu ông muốn nghe những lời êm tai, xin hãy tìm người khác để báo cáo.
- Anh hãy nói rõ để tôi hiểu là tại sao lại không có thể học theo, làm theo Cu Ba?
- Thưa ông, theo tôi ta chỉ có thể Việt Nam hóa Cu Ba, chứ không thể Cu Ba hóa Việt Nam!
- Tại sao?
- Bởi Cu Ba chỉ cách Mỹ có hơn một trăm ki-lô-mét, nên họ suy nghĩ và làm việc theo kiểu Mỹ. Còn ta ở cạnh Tàu nên suy nghĩ và làm việc theo kiểu Tàu.
- Anh nói rõ xem nào, sao cứ “loanh quanh như chó mót ỉa” mãi thế!
- Tôi xin lấy một thí dụ cụ thế ngay bây giờ. Đội xe của toàn Công trường có 150 chiếc. Lúc họ quản lý số xe chết chỉ là một đến hai xe, tức là xe phải nằm sửa chữa là một phần trăm. Khi bàn giao lại cho Việt Nam quản lý thì số xe chết lên khoảng hai mươi đến ba mươi phần trăm. Cả một xưởng vật tư của họ chỉ có một công nhân da đen học lớp bốn quản lý mà anh ta vẫn còn thời gian rỗi rãi để sơn hàng rào quanh doanh trại. Ai yêu cầu tìm hay lĩnh vật tư gì, đưa giấy đến, thì anh ta có câu cửa miệng là:
- “Xin chờ một phút!” Nhưng thật ra cũng phải dăm, mười phút mới đưa được thứ vật tư yêu cầu ra được. Hỏi anh ta còn bao nhiêu cái trong kho, anh ta trả lời ngay là số lượng còn ngần này cái.
Đến khi chuyển sang cho Việt Nam quản lý, phòng vật tư có đến mười lăm người. Hơn tháng sau có người đến làm cấp nước vẫn không nắm được T, Cút(1) là cái gì, hình dáng nó ra sao, nó nằm ở đâu và số lượng còn bao nhiêu cái!
- Tại sao chứ?
- Tại vì họ là đội tình nguyện do đích thân Fidel Castro tuyển và cử sang, với khẩu hiệu là “Vì Việt Nam, chúng ta không tiếc cả máu của mình”. Kỷ luật nặng nhất của họ là bị đuổi về nước.
- Thế chẳng nhẽ chúng ta không phải là người Việt Nam sao, lại làm ăn kiểu ấy?
- Thưa ông, ông là nhà Quản lý lớn và lâu năm mà còn hỏi tôi câu ấy sao?!
- Ừ, thôi vì chúng ta vừa đánh giặc, vừa xây dựng, lại trải qua một thời kỳ bao cấp, “ăn cơm theo kẻng” lâu rồi nên tính ỷ lại, trì trệ không thể một lúc mà khắc phục ngay được. Thế vì sao chất lượng cầu, đường họ làm lại tốt hơn hẳn các nơi khác?
- Ông  quản lý ngành Giao thông nhiều năm, chắc ông cũng nhớ khi rải vật liệu chỉ được rải dày 30 cen-ti-mét, lu chặt lại còn 20 cen-ti-mét, mới được rải lớp khác. Có ba loại lu, là lu nhẹ, lu trung và lu nặng. Đúng trình tự là là đầu tiên phải lu nhẹ 80 lượt, sau đó đến lu trung 80 lượt, cuối cùng là lu nặng cũng là 80 lượt. Có Công trường của Việt Nam nào, ở đâu, lu đúng như vậy, lu đủ như vậy chưa? Đấy là chưa nói đến vật liệu rải phải lấy đúng ở mỏ đất đã được thí nghiệm mà phòng thí nghiệm đã cho phép! Vài lần tay Đội trưởng sản xuất bắt được quân mình lấy đất ngay cạnh đó, mắt thường thì không thể phân biệt được, cũng bắt đổ đi và còn lôi người phạm lỗi về phạt rất nặng.
Nguyên nhân tại sao công trình họ thi công lại có chất lượng hơn khi ta thi công rất đơn giản và dễ hiểu phải không ạ!
- Thế ở các công trường của Việt Nam, khi ta làm việc thì mấy cậu Giám sát thi công đi đâu?
- Thường thì họ ngồi ở hàng uống nước hoặc ra hàng thịt chó uống rượu.
- Tại sao lại có chuyện như thế được?
- Đấy là những chuyện thường xuyên và bình thường, mà bất kỳ công trường nào của chúng ta làm đều xảy ra như thế cả!
- Anh nói thế mà là bình thường à?
- Thưa ông, nếu giám sát thật chặt chẽ và đúng quy trình, quy phạm thì anh ta sẽ bị nhà thầu tìm cách “chơi lại” ngay. Có khi lai còn mang vạ vào thân.
- Đến thế kia à?
- Bởi chúng ta là người Việt Nam mà. Có cái gì không thể làm được!?
- Anh không được nói bậy!
- Vâng, tôi xin lỗi vì tôi vừa nói ông nghe những điều ít ai dám nói.
- Tôi cấm anh không được suy nghĩ bậy bạ như thế nữa.
- Thế thì hơi khó, thưa ông.
- Khó cũng phải làm.
Ngừng một lát ông Hạ hỏi tôi:
- Anh có biết vì sao xe máy của họ có tỷ lệ sống cao hơn hẳn ta không? À, mà anh không có chuyên môn về ngành xe máy thì làm sao mà biết được!?
- Mặc dù không ở ngành xe máy nhưng tôi có thể nói để ông nghe về vấn đề này.
- Anh nói đi.
- Mọi vật liệu, vật tư đều có tuổi thọ của nó.
- Ai chả biết thế! Nhưng cụ thể là thế nào?
- Thí dụ một cái bóng đèn thắp liên tục thì được hơn nghìn giờ, nếu bật tắt liên tục thì được hai nghìn lần. Cái ấy gọi là tuổi thọ của dụng cụ hay vật liệu ta dùng.
- Ừ. Thế rồi sao?
- Vật liệu nào cũng thế. Nó có tuổi thọ tùy theo cách sử dụng của người dùng. Trong ô-tô, xe máy có rất nhiều bộ phận. Vòng bi láp thì có tuổi thọ là thế này, lốp xe chạy được mấy nghìn ki-lô-mét thì hết hạn phải thay thế.
- Làm thế nào để biết cái lốp xe nào đó đã chạy được bao nhiêu ki-lô-mét?
- Tính bình quân thì biết. Một ngày nó chạy khoảng một trăm ki-lô-mét thì một tháng chạy được ba nghìn, nửa năm chạy được mười tám nghìn ki-lô-mét.
- À, thì ra là thế.
- Một anh công nhân da đen lớp bốn của Cu Ba đã làm cái việc theo dõi này, mà làm rất có hiệu quả. Đến kỳ thay thế vật liệu anh ta báo cho người sử dụng phương tiện biết đến lĩnh vật liệu mà thay thế. Đèn thắp ở Văn phòng, hết hạn sử dụng, anh ta tháo ra thay bóng mới, nên chỗ làm việc không bị thiếu ánh sáng bao giờ.
- Tại sao ta không làm được như thế?
- Hàng trăm năm nay, ta đã quen cái kiểu sử dụng là lốp xe phải nổ lanh tanh bành ra, khâu vá vài lần mới dám làm phiếu xin thay thế. Mà “tệ nạn” giấy tờ thì ông không lạ gì, phải đủ các cấp duyệt rồi đi lại dăm, bảy lần mới lĩnh nổi vật tư. Đấy là chưa kể phòng vật tư không tin, cử người đi kiểm tra có đúng lốp xe của anh này khai có nổ thật không. Thế thì số xe “chết” chả chồng đống lên mới lạ. Muốn làm theo cách của Cu Ba, họa chăng ta phải thay thế nhà nước này mà lập ra một quy chế mới.
- Anh lại ăn nói quá đà rồi. Cứ có dăm ba chữ trong đầu là y như coi thường người khác. Ta chẳng đã đánh thắng hai cường quốc lớn nhất thế giới đấy thôi. Có thua kém ai đâu?
- Thưa ông, cứ cái lối suy nghĩ ấy thì còn “chìm trong lạc hậu” vài trăm năm nữa. Cái gì kém thì ta phải biết học hỏi người khác, chứ cứ rung đùi tự khen mình mãi thì làm sao mà khá lên đươc.
- Ừ nhưng mà, anh nói cũng có lý.
- Thật thế ạ, thưa ông.
- Này tôi hỏi, những người anh em Cu Ba, họ thích nhất cái gì?
- Ông có ý định mang tặng quà cho họ ư?
- Cũng có thể!
- Họ thích hai thứ. Nhưng ông chỉ có thể mua tặng họ một thứ!
- Họ thích thứ gì? Mà tôi không thể tặng họ cái gì?
- Họ thích nhất là rượu Lúa Mới của nhà máy rượu Hà Nội và phụ nữ Việt Nam.
- Anh lại nói ba láp rồi!
- Không hề một tý nào.
- Hôm nào lên Xuân Mai, tôi gửi vài chục chai Lúa Mới anh mang hộ nhé.
- Thế còn “đề mục” thứ hai?
- Cái thằng ba bửa này! Không nói với anh nữa.

                                                                                                                           Hà Nội, 2015.

(1) T, Cút: Những phụ kiện để lắp ống nước

Đình Chắn Sóng (Trấn Ba Đình) Hoàn Kiếm - Hà Nội


Nắng sân chùa - Hoàng Mai Hà Nội


Cầu Thê Húc Hoàn Kiếm Hà Nội


tháng 6 09, 2015

Cô gái giúp việc người dân tộc

Trên tuyến 1A gồm mười cầu từ Mẹt đến Đồng Đăng có một đoạn tránh. Nằm trên đoạn tránh này có bốn cầu nhỏ khẩu độ chỉ trên dưới mười mét. Từ những năm 1902, 1903, người Pháp đã khai thác đoạn tránh này, họ cho đường bộ và đường sắt đi chung. Bốn cầu nằm trên đất Sài Hồ được đặt tên là Sài Hồ Một, Sài Hồ Hai, Sài Hồ Ba, Sài Hồ Bốn, kể từ phía cầu Mẹt đi lên phía Đồng Đăng.
Đến năm 1945, 1946, sau khi cướp chính quyền, con đường này được thiết kế thay đổi lại để đường sắt tách ra, đường bộ đi riêng.  
Tuyến đường bộ đổi mới được xây dựng sau giải phóng rất “hiểm ác”. Tuần nào cũng có vài, ba cái xe đang đi trên đường “tự nhiên lộn phộc” xuống vực sâu. Xe tan, hàng mất, còn người cũng thường theo “ông bà, ông vải” về Tây Trúc, nhưng không phải đi thỉnh kinh như Đường Tam tạng, trong Tây Du ký đâu.   
Khi có tai nạn xảy ra, mà đổ tội cho người lái xe thì đúng quá đi rồi, ai mà cãi lại được. Có kém, có sai sót, mới “lái xe” xuống vực, chứ không thì ai lại muốn xuống “du ngoạn” ở dưới đó bao giờ!
Nhưng nếu “khách quan” một chút thì sẽ nhận ra tuyến đường đi quả thật rất cheo leo, hiểm ác, lên xuống thất thường, cua(1) rất ngặt. Mấy thiết bị an toàn trên đường như gương lồi để nhìn xe ngược chiều, cũng chỗ có chỗ không, thành ra nhiều lái xe đã nói nửa đùa, nửa thật là:
- “Đến bến, bước xuống xe mới biết là mình còn sống!”. Chứ thật ra có tay lái xe nào chán sống đâu mà lại chọn chỗ đèo heo, hút gió này mà lao xe xuống để đi tìm cái chết!
Đến năm 1998, 1999, do nước ngoài đầu tư vào tuyến 1A Hà Nội - Lạng Sơn. Họ đã khảo sát, thiết kế lại từ đầu. Sau khi so sánh các phương án, thì phương án tối ưu cho đường bộ, vẫn là phương án cũ của mấy “xừ”(2) Phú Lang Sa(3), tức là đi vào tuyến tránh Sài Hồ.
JIBIC một hãng thầu Xây dựng công trình lớn của Nhật Bản trúng thầu. Tuyến đường 1A đoạn từ Mẹt đến Đồng Đăng được triển khai thi công, thì có đến ba nhà thầu chính là Cienco 1, Cienco 8, và Cienco 4 cùng bảy tám nhà thầu phụ nữa được JIBIC tuyển lựa và cho phép thi công.
Trong Sài Hồ, bốn cầu cũng có bốn điểm nhà thầu phải lo chỗ ăn ở cho Tư vấn Giám sát. Cầu Sài Hồ 1 ở ngay đầu tuyến nên chỗ này dân cư cũng đông hơn ba cầu phía trong. Đồng bào ở đây chủ yếu là dân tộc Nùng. Kinh cũng có nhưng ít lắm.
Hai vị Giám sát cầu này, nhà cửa, ăn ở không phải lo nữa. Tự nhiên thấy mình thành người “quan trọng”, khác hẳn với những đồng bào xung quanh. Hồi mới nghỉ hưu, chưa có việc, ở nhà vợ vẫn sai chợ búa, cơm nước, đưa đón cháu đi học. Nhưng bây giờ bỗng nhiên không biết nấu nướng, chợ búa nữa.
Hai vị bàn với nhau thuê một cô sơn nữ thạo tiếng Kinh để nấu cơm, đi chợ. Sau thấy vẫn chưa “bõ” tiền công trả hằng tháng, hai ông bèn lôi thêm hai ông nữa ở cầu Sài Hồ Hai cách chưa đầy cây số đến góp gạo để cô gái giúp việc thổi cơm chung và kiêm cả kỳ lưng khi các ông rủ nhau ra tắm suối.
Cô gái được tuyển này tiếng là người dân tộc nhưng láu hơn cả mười người Kinh gộp lại. Chót “lỡ trớn” với một thằng “ma-cà-bông” “xin được” một con bé con kháu khỉnh, nên cô ta không cái gì là không biết, chưa có việc gì là chưa làm thử qua.
Cô gái được trả lương đến một triệu một tháng, cơm nuôi, bằng mấy thu nhập khi bán nước ở cái quán nhỏ đầu đường, nên rất chịu khó và rất dễ bảo.
Những hôm nóng, mọi người rủ nhau ra suối tắm, bảo cô ta cởỉ quần áo ra cho đỡ vướng là nghe ngay.
Bảo đứng ngồi tạo dáng để chụp ảnh kỷ niệm cũng không bao giờ ngần ngại. Chả thế mà cuối dự án, ông nào cũng "sở hữu" hàng xâu ảnh khỏa thân rất đỗi “dễ thương” của cô ta để lại làm kỷ niệm.
Bác Hòa, bác Tư vấn già nhất hội, người từng làm đến chức Giám đốc Sở Xây dựng ở Hà Nội đã định nhận cô làm con nuôi, có ý đưa cô về Hà Nội lập nghiệp. Nhưng có lẽ vì chưa hợp tuổi, hay chưa “hợp với phong thủy” nên bác chưa làm cái việc “nhân nghĩa tày đình” ấy được.
Đã có lần bác tâm sự:
- “Mình tuổi Mùi, mà lấy vợ lại tuổi Dần, nên lúc “gặp gỡ”, mình cứ nơm nớp sợ hãi vô cớ y như “Dê” nằm trong miệng “Cọp” “luôn cảm thấy bất an” thế nào ấy!
Nhưng có lẽ chẳng phải tại tuổi Cọp hay tuổi Dê mà sinh ra như thế đâu. Cái bác “nể” bác gái, kể cả lúc còn đang làm Giám đốc, là bác có hàng “mớ vệ tinh” luôn vây quanh lại “rất chi là khắng khít”. Ấy là bởi sự hào phóng của bác và cũng bởi bác được “mệnh danh” là “Hòa Khan”! Một lúc có thể phục vụ dăm, bảy cô “rất vô tư”!
***
Đã lâu, tôi mới có dịp qua Sài Hồ, thăm hỏi lại chốn xưa, người cũ. Cô gái người Nùng giúp việc cho mấy bác Giám sát ở Sài Hồ cũng đã lớn tuổi rồi mà vẫn còn độc thân bán quán.
Hỏi vì sao chưa lấy chồng thì cô bảo:
- Vùng này đã đi bán quán và giúp việc cho người Kinh thì coi như “đồ bỏ đi” rồi. Còn ai dám lấy nữa!  
Trong lòng tôi cứ tự hỏi chả biết như thế có khắt khe quá không???     
Lúc sau có một cậu bé cỡ mười ba, mười bốn trong nhà bước ra gọi cô bằng mẹ. Tôi ngẩng lên nhìn thì giật mình như thấy ông bạn Tư vấn già của mình năm xưa xuất hiện, chỉ có trẻ hơn nhiều thôi. Thật giống nhau như hai giọt nước! Hỏi thì cô chỉ cười không nói.
Nhưng tới lúc hỏi cô có biết tin ông Hòa đã mất năm ngoái không, thì tôi chợt thấy cô khựng lại, rồi hai hàng nước mắt ào ạt chảy ra như hai dòng suối nhỏ, trong veo nơi rừng sâu ngày nào có cô gái “tắm tiên” để mấy bác Tư vấn già chụp ảnh.
Tôi trở về mà cứ áy náy, trách mình mãi.
Kể như đừng cho cô ấy biết cái tin ấy thì tốt hơn. Để trong lòng cô vẫn luôn hy vọng có ngày nào đó bác Hòa trở lại tìm!?    



                                                                                                                            Hà Nội, 2015.                

      (1)   Cua: từ chữ courbe (tiếng Pháp) - đoạn cong, đường cong.
      (2)   Xừ: Ông: (Tiếng Pháp: Monsieur)
      (3)   Phú Lang Sa: người Pháp (Francaise)


Tháp Rùa Hoàn Kiếm Hà Nội


Cầu Thê Húc Hoàn Kiếm Hà Nội