tháng 11 18, 2017

Tự sự về một món nợ

Ngõ Đền Đống Đóm, một xóm nghèo bên cạnh nhà máy Xi măng Hải phòng, là nơi cư ngụ của những con người bị bần cùng, không sống nổi ở quê nhà phải ra thành thị kiếm ăn, trở thành những cu ly, chui rúc trong những căn lều quanh năm phủ đầy bụi than, bùn lầy, nước đọng.
Bạn tôi: ông Trần Quốc Khánh, sinh ra và lớn lên ở đó.
Từ những năm 50 của thế kỷ trước, cùng học một lớp với nhau ở trường Ngô Quyền, Hải Phòng tôi thường sang nhà ông chơi. Năm 1959, mấy anh em chúng tôi đều bị đánh trượt lớp 10, (lớp cuối cấp 3 đầu tiên của Hải Phòng lúc bấy giờ), do không “cùng cạ” với thày hiệu trưởng Nguyễn Văn Hòa, mặc dù chúng tôi học đâu có đến nỗi tồi!
Tự ái chúng tôi không chịu học đúp. Tôi xin đi dạy học ở Sở Công an Hải Phòng, còn ông Khánh thì đi đẩy xe than ở nhà máy Xi măng.
Năm 1960 chúng tôi quyết tâm vừa đi làm vừa ôn tập để thi hết cấp, chúng tôi đã tốt nghiệp kỳ thi năm đó một cách dễ dàng.
Những ngày ôn thi tôi thường đến nhà ông Khánh để cùng học, đã chứng kiến cuộc sống của gia đình ông như thế nào.
Cụ ông co mình cam phận với cái “chức” nhân viên Phòng thí nghiệm nhà máy Xi măng. Cụ bà hàng ngày kẽo kẹt với gánh hàng vặt bên chân cầu. Bà Hiền vất vả với ông chồng bệnh tật, bên ngoài luôn chì chiết, nhưng bên trong lại rất mực yêu thương các em, giống hệt với tính cụ bà.
Bà Dung lấy ông Luận “nghệ sĩ”, cả đời không đóng nổi một cái đinh. Ông Khánh vẫn say thơ tình da diết với màu xanh trong mơ và những bức tranh đồng quê yên ả, bên những nhọc nhằn của kiếp cu li.
Năm 1961, cả mấy anh em chúng tôi cùng thi đậu vào trường Đại học Bách Khoa, Hà Nội, chuyên ngành Cầu đường bộ.
Sau 4 năm rưỡi học tập, ông Khánh về công tác tại Viện Thiết kế Bộ Giao thông, còn tôi vào phục vụ trong quân đội. Ông Khánh gắn bó với nghề suốt đời, còn tôi thì lông bông cái gì cũng làm được, cái gì cũng làm qua nhưng chẳng có cái gì giỏi cả.
Tuy không phải là ruột thịt, có chênh nhau chút ít về tuổi tác, nhưng quan hệ thì bình đẳng, chí tình, chí nghĩa, tri âm, tri kỷ.
Có một việc từ năm 1993 tôi còn nợ ông Khánh, đó là việc đòi lại mảnh đất nhà ông. Vì vậy đến nay tôi cố gắng trả xong món nợ này.
Thú thực với ông, năm đó mải mê với công việc Nhà nước giao cho, sự hiểu biết của tôi cũng còn nông cạn về lĩnh vực đất đai, nên khi được giải thích là người ta đã có thông báo đền bù mà mình không đến lấy thì mình cũng có lỗi, lủi thủi ra về cũng không nghĩ đến việc yêu cầu họ xác nhận vào đơn.
Chắc là hồi đó họ cũng chỉ quen lý giải bằng mồm, tôi đưa trả lại đơn cho ông và viết vài dòng chữ vào một mảnh bìa để ông tin, coi như thế là xong!
Sự việc thế rồi rơi vào quên lãng, dòng đời cứ trôi. Các cụ lần lượt ra đi cả, ông Huyên, ông Luận, bà Dung cũng đã đi theo các cụ. Chúng tôi đã nghỉ hưu, cũng đã là những ông lão tóc bạc, nhưng răng chưa long, vẫn ham vui và vẫn thích nhiều thứ.
Ngoài việc đi làm để kiếm tiền thêm cho gia đình, ông vẫn mang nặng tâm hồn nghệ sĩ, vui thú với những cái chẳng kiếm ra đồng nào: vẽ vời, làm thơ, chụp ảnh, viết văn châm biếm.
Còn tâm hồn tôi có lẽ đã khô cứng nên chẳng có thơ, chẳng có văn, không mấy lúc có thời gian mở cửa để đón nàng thơ và vẫn thích phiêu du trên những nẻo đường, đi tìm những cái đã mất trong đời.
Tôi chợt nhớ về món nợ năm xưa khi ông nhắc tới, nghĩ tới sự ấu trĩ hồi nào cứ cho rằng nhà mới là tài sản của mình, đất là của nhà nước. Nhà mình không còn, thì đất nhà nước thu về giao cho cơ quan nhà nước dùng là lẽ đương nhiên. Sự ấu trĩ của tôi cũng là sự ấu trĩ của rất nhiều người, trong đó có ông. Chúng ta đã bị chính sách ngu dân đẩy vào vòng tăm tối, u mê.
Lúc này đã có luật đất đai, tôi yêu cầu ông tìm thật được Nghị định 181 để đọc và đã thấy khả năng đòi lại đất, cùng ông làm đơn khiếu nại với tia hy vọng mong manh.
Càng đọc những văn bản trả lời của đối phương, những văn bản luật, được sự giúp đỡ tận tình của các ban (ông Thanh, ông Duyệt, ông Lân, ông Viên) chúng tôi đã thu được những tài liệu quý giá, trói chặt và buộc đối phương phải trả lại tài sản cho ông.
Công ty Xi măng Hải phòng chiếm đất nhà ông có theo pháp luật nào đâu, thế mà ngày nay người ta lại bảo phải giải quyết theo pháp luật? Thực là “chua xót”
Ông Khánh ơi, chúng ta đã sờ thấy cái kim dưới đáy biển rồi, nhưng không biết “vớt lên” sẽ ra sao.
Cầu mong vong linh các cụ phù hộ kim vàng long lanh dưới ánh mặt trời, tôi cũng toại nguyện đã trả xong món nợ.


Hải phòng, ngày 4 tháng 7 năm 2006
                                            Đỗ Bảo Cung

TB: Tôi đưa bản viết này cho bà Lộc nhà tôi xem. Tôi hỏi:
- Viết có được không ?
Bà tủm tỉm cười:
- Được
Là một nhà văn không biết ông đánh giá thế nào, chứ với giọng văn này cách đây trên 40 năm, bà Lộc đã bị tôi chinh phục vì nó xuất phát từ tấm lòng mộc mạc chân thực của con người./.


Hải Phòng, 2006.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét