Ngõ Đền Đống Đóm, một xóm nghèo bên cạnh
nhà máy Xi măng Hải phòng, là nơi cư ngụ của những con người bị bần cùng, không
sống nổi ở quê nhà phải ra thành thị kiếm ăn, trở thành những cu ly, chui rúc
trong những căn lều quanh năm phủ đầy bụi than, bùn lầy, nước đọng.
Bạn tôi: ông Trần Quốc Khánh, sinh ra và
lớn lên ở đó.
Từ những năm 50 của thế kỷ trước, cùng
học một lớp với nhau ở trường Ngô Quyền, Hải Phòng tôi thường sang nhà ông
chơi. Năm 1959, mấy anh em chúng tôi đều bị đánh trượt lớp 10, (lớp cuối cấp 3
đầu tiên của Hải Phòng lúc bấy giờ), do không “cùng cạ” với thày hiệu trưởng
Nguyễn Văn Hòa, mặc dù chúng tôi học đâu có đến nỗi tồi!
Tự ái chúng tôi không chịu học đúp. Tôi
xin đi dạy học ở Sở Công an Hải Phòng, còn ông Khánh thì đi đẩy xe than ở nhà
máy Xi măng.
Năm 1960 chúng tôi quyết tâm vừa đi làm
vừa ôn tập để thi hết cấp, chúng tôi đã tốt nghiệp kỳ thi năm đó một cách dễ
dàng.
Những ngày ôn thi tôi thường đến nhà ông
Khánh để cùng học, đã chứng kiến cuộc sống của gia đình ông như thế nào.
Cụ ông co mình cam phận với cái “chức”
nhân viên Phòng thí nghiệm nhà máy Xi măng. Cụ bà hàng ngày kẽo kẹt với gánh
hàng vặt bên chân cầu. Bà Hiền vất vả với ông chồng bệnh tật, bên ngoài luôn
chì chiết, nhưng bên trong lại rất mực yêu thương các em, giống hệt với tính cụ
bà.
Bà Dung lấy ông Luận “nghệ sĩ”, cả đời
không đóng nổi một cái đinh. Ông Khánh vẫn say thơ tình da diết với màu xanh
trong mơ và những bức tranh đồng quê yên ả, bên những nhọc nhằn của kiếp cu li.
Năm 1961, cả mấy anh em chúng tôi cùng
thi đậu vào trường Đại học Bách Khoa, Hà Nội, chuyên ngành Cầu đường bộ.
Sau 4 năm rưỡi học tập, ông Khánh về công
tác tại Viện Thiết kế Bộ Giao thông, còn tôi vào phục vụ trong quân đội. Ông
Khánh gắn bó với nghề suốt đời, còn tôi thì lông bông cái gì cũng làm được, cái
gì cũng làm qua nhưng chẳng có cái gì giỏi cả.
Tuy không phải là ruột thịt, có chênh
nhau chút ít về tuổi tác, nhưng quan hệ thì bình đẳng, chí tình, chí nghĩa, tri
âm, tri kỷ.
Có một việc từ năm 1993 tôi còn nợ ông
Khánh, đó là việc đòi lại mảnh đất nhà ông. Vì vậy đến nay tôi cố gắng trả xong
món nợ này.
Thú thực với ông, năm đó mải mê với công
việc Nhà nước giao cho, sự hiểu biết của tôi cũng còn nông cạn về lĩnh vực đất
đai, nên khi được giải thích là người ta đã có thông báo đền bù mà mình không
đến lấy thì mình cũng có lỗi, lủi thủi ra về cũng không nghĩ đến việc yêu cầu
họ xác nhận vào đơn.
Chắc là hồi đó họ cũng chỉ quen lý giải
bằng mồm, tôi đưa trả lại đơn cho ông và viết vài dòng chữ vào một mảnh bìa để
ông tin, coi như thế là xong!
Sự việc thế rồi rơi vào quên lãng, dòng
đời cứ trôi. Các cụ lần lượt ra đi cả, ông Huyên, ông Luận, bà Dung cũng đã đi
theo các cụ. Chúng tôi đã nghỉ hưu, cũng đã là những ông lão tóc bạc, nhưng
răng chưa long, vẫn ham vui và vẫn thích nhiều thứ.
Ngoài việc đi làm để kiếm tiền thêm cho
gia đình, ông vẫn mang nặng tâm hồn nghệ sĩ, vui thú với những cái chẳng kiếm
ra đồng nào: vẽ vời, làm thơ, chụp ảnh, viết văn châm biếm.
Còn tâm hồn tôi có lẽ đã khô cứng nên
chẳng có thơ, chẳng có văn, không mấy lúc có thời gian mở cửa để đón nàng thơ
và vẫn thích phiêu du trên những nẻo đường, đi tìm những cái đã mất trong đời.
Tôi chợt nhớ về món nợ năm xưa khi ông
nhắc tới, nghĩ tới sự ấu trĩ hồi nào cứ cho rằng nhà mới là tài sản của mình,
đất là của nhà nước. Nhà mình không còn, thì đất nhà nước thu về giao cho cơ
quan nhà nước dùng là lẽ đương nhiên. Sự ấu trĩ của tôi cũng là sự ấu trĩ của
rất nhiều người, trong đó có ông. Chúng ta đã bị chính sách ngu dân đẩy vào
vòng tăm tối, u mê.
Lúc này đã có luật đất đai, tôi yêu cầu
ông tìm thật được Nghị định 181 để đọc và đã thấy khả năng đòi lại đất, cùng
ông làm đơn khiếu nại với tia hy vọng mong manh.
Càng đọc những văn bản trả lời của đối
phương, những văn bản luật, được sự giúp đỡ tận tình của các ban (ông Thanh,
ông Duyệt, ông Lân, ông Viên) chúng tôi đã thu được những tài liệu quý giá,
trói chặt và buộc đối phương phải trả lại tài sản cho ông.
Công ty Xi măng Hải phòng chiếm đất nhà
ông có theo pháp luật nào đâu, thế mà ngày nay người ta lại bảo phải giải quyết
theo pháp luật? Thực là “chua xót”
Ông Khánh ơi, chúng ta đã sờ thấy cái kim
dưới đáy biển rồi, nhưng không biết “vớt lên” sẽ ra sao.
Cầu mong vong linh các cụ phù hộ kim vàng
long lanh dưới ánh mặt trời, tôi cũng toại nguyện đã trả xong món nợ.
Hải phòng, ngày 4 tháng
7 năm 2006
Đỗ
Bảo Cung
TB: Tôi đưa bản viết này cho bà Lộc nhà
tôi xem. Tôi hỏi:
- Viết có được không ?
Bà tủm tỉm cười:
- Được
Là một nhà văn không biết ông đánh giá
thế nào, chứ với giọng văn này cách đây trên 40 năm, bà Lộc đã bị tôi chinh
phục vì nó xuất phát từ tấm lòng mộc mạc chân thực của con người./.
Hải Phòng, 2006.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét