Tốt nghiệp Bách khoa tôi được Viện Thiết
Kế Bộ Giao thông lấy về làm việc năm 1965, đúng vào dịp chiến dịch “đánh hạn
chế” của máy bay Mỹ vào Miền Bắc. Tháng sáu năm 1966, Mỹ bắt đầu ném bom Hà
Nội, Hải Phòng, thì khoảng tháng tám năm ấy, cơ quan Viện sơ tán về làng Bắc
Kế, Hương Canh, An Lãng, tỉnh Vĩnh Phúc.
Muốn đến Bắc Kế thì đi tàu hỏa xuống ga
Hương Canh rồi bồng bế nhau vào. Cũng phải hơn bốn cây số đường đất rộng chạy ô-tô
được, chỉ có gần cây số nữa là phải đi bộ.
Bắc Kế là một thôn nhỏ, thuần nông chỉ
trông vào trồng cấy, nghèo nàn, dân cư thưa thớt. Trong làng chủ yếu là nhà tranh
vách đất, có nhà tường lại được xây bằng các phế liệu của gốm Hương Canh như
vại, hũ, lu và cả tiểu sành nữa. Vữa xây chỉ là bùn, họa hoằn lắm mới được trộn
thêm ít vôi. Có dăm nhà khá giả hơn thì tường được xây bằng gạch đá ong. Đường
làng nhỏ hẹp, lồi lõm, mưa xuống thì lầy lội, lõng bõng nước và phân trâu bò
bẩn thỉu. Đi lại rất ngại.
Phụ nữ và trẻ em gái đa phần đi đất, mặc
mấn(1) và chưa biết đến đồ lót là gì!
Do đời sống trong làng lạc hậu nên kiêng
cữ ngặt lắm.
Còn nhớ ông Trung tiến sĩ, giáo sư trường
Đại học Bách Khoa Hà Nội thỉnh thoảng ghé vào thăm vợ là chị Vi, kỹ sư Phòng
Cầu, mà đến vào buổi chiều thì phải ngồi ngoài hè cả đêm đợi giời sáng. Hôm sau
còn ở lại chơi, thì nhà chủ sẽ để một người nghỉ làm đồng ngồi nhà trông chừng.
Phòng làm việc của Phòng Cầu được đặt ở
nhà ông Quang tận cuối làng (phong tục ở đây chủ nhà được gọi bằng tên con
giai, dù còn nhỏ như thằng Quang mới chín tuổi). Nhà này xây gạch đá ong thoáng
rộng, kê thêm được ba, bốn cái bàn làm việc và cái phản nhỏ để tôi nằm ngủ sát
góc nhà.
Ông Quang là một người đàn ông cao to, trạc
trên bốn mươi, là tổ trưởng tổ rau của Hợp Tác Xã, nên thu nhập có khá hơn các
hộ khác chỉ làm lúa. Vợ cả ông đã qua đời đã lâu. Bà này là bà hai, sinh được hai
bé gái rồi đến thằng Quang. Đặc biệt ông Quang thích nấu rượu, mà hồi đó nhà
nước gọi là rượu lậu, còn cấm ngặt lắm, vì thế cứ đến đêm ông mới dám “hành sự”.
Được mẻ đầu, bao giờ ông cũng đánh thức
tôi dậy để nếm. Hai người đàn ông, nửa lít rượu, một nắm rau cần nhà trồng,
được ông xào rất khéo với nửa lạng thịt trâu, rau vừa chín tới, thịt vẫn còn
mềm, thơm nức mùi hành, tỏi, đặt vào môi là trôi vào cổ. Những lúc được ngồi
nhâm nhi như thế trong căn bếp nhỏ, bên chén rượu ngon, chút đồ ăn hợp vị, tôi cho
rằng để bay bổng lên chín tầng mây cũng chẳng khó khăn, tốn kém là bao. Đâu có ghê
gớm như người ta thường bàn tán!
Ở lâu lâu, tôi được ông Quang quý hóa,
coi như người thân trong nhà. Nhớ nhất là cái tết năm ấy, do được nghỉ dài
ngày, mọi người đều về cả, tới mồng năm mới phải đi làm. Trở lại làm việc, tôi
được ông Quang để dành cho một bát tiết canh làm từ hôm ba mươi tết trên ban
thờ nhỏ sát tường.
Mới trông thấy bát tiết canh tôi đã sợ
toát mồ hôi hột, nói dối rằng từ bé chưa từng ăn được tiết canh, lại nói rằng
ăn tiết canh sẽ bị dị ứng, nhưng không thể từ chối lòng yêu mến của ông chủ nhà
tốt bụng “một cách không thể từ chối được”. Ông cứ ép đi, ép lại mãi, đến lúc
biết không ăn, không được, tôi đành làm một ngụm rượu rõ lớn rồi nhắm mắt, nuốt
lấy được bát tiết canh. Thực ra thường ngày, tiết canh là “món khoái khẩu” của
tôi, nhưng “nuốt trôi” được bát tiết canh đã để từ sáu ngày trước thì quả thật
là “phi phàm”. May mà không xảy ra chuyện gì. Sau hôm đó cái bất ngờ lớn nhất là
ông Quang nhất định nhận tôi làm “anh em kết nghĩa”!
Thế rồi cũng phải “trình làng” với mấy anh
em cùng phòng một bữa túy lúy.
Tuy là làng nghèo, nhưng phong cảnh lại
rất đẹp. Cạnh làng là một khu vườn rộng trồng khuynh diệp và sau đó làng để cơ
quan làm nhà cho cán bộ công nhân viên ngay trong khu vườn đó.
Cạnh làng có một dòng suối nhỏ trong vắt
uốn éo chảy qua, chỗ sâu nhất cũng chỉ hơn một mét, nơi hằng đêm bọn tôi lôi
nhau ra tắm táp, nô nghịch thỏa thích, kể cả những đêm lạnh nhất giữa mùa đông.
Bây giờ nhớ lại thì lại bảo nhau rằng mùa đông năm ấy không lạnh lắm, nhưng ai
cũng hiểu rằng mọi người lúc ấy còn trẻ, còn rất trẻ, mà cái sức nóng của tuổi
trẻ đã coi cái giá lạnh của mùa đông không là gì!
Làng có một cái trại nhỏ ngay gần đó
trồng rau gọi là Trại Cúc. Đi bộ mất dăm phút là tới. Bên trại này có vỡ ít đất
màu trồng rau, chủ yếu là rau cúc, cũng chỉ có dăm ngôi nhà tranh nho nhỏ.
Sau do chật chội, cơ quan chuyển một số
phòng sang bên Trại Cúc làm việc. Tất nhiên mấy phòng chính, phòng lớn và bếp
ăn tập thể vẫn phải để bên Bắc Kế.
***
Hai năm sau khoảng năm 1968, tôi được Viện
cử đi dạy lớp nâng cao nghiệp vụ cho cán bộ tại chức tận Quế Võ, thuộc Hải
Dương, cách Hà Nội khoảng bảy, tám mươi cây số, cách Bắc Kế cũng cỡ trăm cây.
Mấy năm sơ tán về cái làng nhỏ bé này,
tôi đã có bạn gái. Đó là một cô nhân viên phòng Can In, quê tận Hà Nam. Cứ chủ
nhật tôi đạp xe từ Quế Võ về Bắc Kế với cô bạn gái quê mùa của mình. Có lần
trên đường gặp mẻ cá ngon, tôi mua rồi treo lên ghi-đông(2) xe đạp. Tới nơi mới
biết bạn đã về Hà Nội họp Đoàn. Thế là tôi lại đạp xe về Hà Nội. Đến Hà Nội mới
biết cuộc họp đã kết thúc mấy tiếng trước, cô ấy đang trên đường lên Bắc Kế. Lại
đạp xe ngược lên Bắc Kế… Tính ra ngày hôm đó tôi đã đạp xe trên hai trăm cây số
như một cua-rơ(3) đường dài chuyên nghiệp! Mẻ cá tươi trên ghi đông xe đã khô
quắt, thành mẻ cá khô!
Bây giờ lắm lúc tự hỏi chả biết hồi ấy
lấy đâu ra nhiều sức lực thế? Có lẽ là nhiệt tình, nhưng có lẽ là tuổi trẻ
thì đúng hơn! Chứ như bây giờ thì chỉ cần đi lại dăm cây số thôi là lập tức
“đầu hàng vô điều kiện”!
***
Trong thời kỳ sơ tán về đây đã xảy ra một
việc cực kỳ lạ lùng. Phòng Y Tế cơ quan có ba, bốn người, ông Linh Y sỹ là
trưởng phòng. Ông là một người chững chạc, được đào tạo trường lớp tử tế, giỏi
nghiệp vụ và có uy tín trong cơ quan lúc bấy giờ. Tất nhiên ông phải là Đảng
viên rồi.
Bỗng mấy ngày liền ông bị sốt cao đến mê
sảng, luôn mồm cầu xin ai đó đừng giết mình.
Không ăn uống chút gì và luôn mồm lẩm
bẩm:
- Xin tha cho tôi. Tôi còn vợ con và cả
mẹ già đã trên tám mươi. Xin hãy buông tha cho tôi!
Những ngày ấy người trong phòng Y tế không
ai làm gì được việc gì, cứ phải phân công nhau chăm sóc, trông chừng ông. Sau
thấy không thuyên giảm, họ bàn nhau phải đưa ông Linh về Hà Nội chữa trị.
Đùng một cái, ông Linh biến mất. Sáng ra
không thấy đâu.
Tìm khắp nơi chẳng ăn thua gì, chả lẽ cơ
quan lại phải đi báo Công an để tìm người ốm mất tích!?
Tối ấy, sau giờ làm việc, bọn tôi kéo
nhau ra suối tắm như thường lệ, thì một cậu quờ phải một người nào đó nằm dưới
đáy.
Vớt lên thì là ông Linh.
Ai cũng cho là ông sốt mê sảng đã mò mẫm
ra suối tắm, chẳng may sẩy chân chết
đuối.
Cơ quan làm thủ tục rồi cử người về quê
đón gia đình ông lên để làm lễ mai táng. Ai cũng bùi ngùi và cảm thông với gia
đình người xấu số.
Việc ấy rồi cũng đã dần dần chìm xuống.
Nhưng bốn, năm ngày sau đó, bỗng
thấy một xe Com-măng-ca(4) chở năm, sáu đồng chí Công an đến làm việc với lãnh
đạo.
Người ta cho khai quật mộ ông Linh lên để
xét nghiệm. Thời kỳ này cơ quan bận nhiều việc lắm, ngày đêm phải “vắt chân lên
cổ” để thiết kế đảm bảo giao thông do giặc đánh phá chủ yếu vào cầu đường.
Nhưng điều quan trọng hơn cả là phong tục
tập quán ở địa phương coi việc đào mồ lên là việc rất kiêng kỵ, chưa từng xảy
ra bao giờ.
Nhưng lúc bấy giờ Công an với Bộ đội muốn
làm gì mà chả được!
Là nhân viên mới của cơ quan, nên suốt từ
sáng sớm tôi đã phải vác súng đứng gác cho kíp(5) mổ. Cũng chẳng biết làm thế
nào, cơ quan đã giao việc, thì cái gì mà chả phải chấp hành.
Dù đã khôn lỏi, đốt mấy nắm hương thật
to, căm tứ tung quanh vị trí giải phẫu và chọn đứng phía đầu gió, nhưng xác đã
ngâm nước hai ngày lại chôn xuống đất dăm ngày nữa, nên đã phân hủy sâu. Mùi
hôi thối nồng nặc, bốc ra xung quanh hàng dăm chục mét, một mùi hôi thối thật
khủng khiếp, không thể tả được mà từ bé tôi chưa “được thưởng thức” bao giờ.
Bữa trưa đó nhà bếp nấu cơm đặc biệt để
bồi dưỡng cho mấy thằng gác xác mà không thằng nào nuốt được, mặc dù trông thấy
cái ăn ngon cũng thèm lắm.
Lúc đó tôi đứng ngay cạnh viên sĩ quan
phụ trách kíp mổ. Anh ta vừa quan sát vừa đọc cho một cô cảnh sát trẻ ghi chép
biên bản. Dù đã tốt nghiệp ngành công an mà cô này cũng nôn thốc, nôn tháo ba,
bốn bận, ra cả mật xanh, mật vàng trông rất tội nghiệp. Lúc ấy tôi cũng còn
trẻ, mới hai sáu, hai bảy, tai còn thính lắm nên nghe gần như trọn vẹn biên bản ghi về cái chết của ông Linh.
Thì ra ông ta bị giết, chứ không phải
chết đuối như mọi người đã đoán lúc trước. Kết hợp với những lời van xin tha
mạng thốt ra lời của ông trước khi bị giết thì đến chín chín phần trăm đúng là
án mạng!
Nhưng vì sao ông Y sỹ Linh lại bị giết?
Ai đã giết ông, để làm gì? Không ai biết thực hư. Hỏi ai bây giờ? Mà ai người
ta nói cho mình biết. Thế là mười đồn trăm, trăm đồn nghìn. Người nào cũng tự
tưởng tượng ra một câu chuyện mà mình cho là hợp lý, rồi kể lại với người khác y
như mình đã “tận mắt thấy, tai nghe” vậy.
Chỉ biết lãnh đạo cơ quan lại thì thầm ra
lệnh cho kíp gác xác là ban đêm không được đi đâu ra ngoài một mình, có việc
buộc phải ra ngoài thì phải đi vài ba người cầm đèn đuốc đàng hoàng.
Tôi lại còn được cơ quan phát cho một
khẩu súng trường cổ của Pháp mà có lẽ nó được sản xuất từ lúc Nã-phá-luân(6)
còn cởi chuồng! Đồng thời cử thêm anh Trần Hải một cán bộ Miền Nam tập kết, to
con đến ngủ chung cho chắc! Nhưng sau đó anh ta “nêu lý do” là có một số việc
đang làm dở(!) không sang ngủ chung được. Có lẽ thằng cha này sợ “đầu chả phải,
phải tai”, nên đã viện cớ từ chối khéo!
Cũng có lẽ do mọi người đã thần hồn, nát
thần tính(7), người này dọa người kia, hoặc tự mình dọa mình, thành ra không khí
trong làng, ngoài ngõ cứ căng lên như dây đàn đã được lên dây hết cỡ.
Tôi nghĩ rằng khẩu súng cổ không có đạn
này thì có tác dụng gì, nên không nhận. Nhưng lệnh là lệnh, cứ phải cầm lấy,
lại còn phải ký nhận vào sổ nữa chứ. Biết chuyện này ông Quang nằng nặc bắt tôi gối
đầu giường một con dao phay to rất sắc. Tôi đành chiều ông vậy. Tối ấy trước
khi ngủ tôi đã cố tình để ghế lung tung, nếu không quen vào nhà tối mò mò thế
này, thế nào cũng xô đổ ghế, phát ra tiếng động.
Tôi đã ngủ được một giấc thì nghe thấy
tiếng kẹt cửa nho nhỏ. Từ nhỏ tai đã thính như tai chó, nên tôi thức dậy ngay. Thầm
hỏi sao chó trong nhà lại không sủa?! Như vậy đây là người quen rồi! Mở mắt
nhìn mờ mờ trong tối thì thấy một bóng đen to lớn đang len qua các hàng ghế rất
khéo léo mò vào phía giường tôi nằm không một tiếng động. Tôi hoảng sợ thật sự nghĩ
rằng những điều cơ quan đã cảnh báo phải đề phòng là không thừa.
Tôi nhẹ nhàng, ngồi dậy phía cuối giường thủ
thế, tay cầm chắc con phay giơ lên sẵn sàng bổ xuống kẻ “đột nhập nguy hiểm”
kia!
Bóng đen nhẹ nhàng kéo màn phía đầu
giường. Đích thị nó muốn chẹt cổ mình đây mà! Không thể chần chừ được nữa!
Tuy nhiên từ bé tôi chưa chém ai bao giờ
thành ra cứ đắn đo nửa “hạ thủ”, nửa không. Cuối cùng sợ hãi quá tôi đã hét tướng
lên trong đêm vắng:
-
Ai?
Ai???
-
Tôi
đây, tôi đây, Hải, Hải đây!!!
Thì ra là anh Hải. Tiếng hét của tôi đã
làm cho vợ chồng ông Quang bật cả dậy. Đèn được thắp lên hai, ba cái, sáng
trưng. Tôi vẫn giơ con dao mà người run lên bần bật.
Tôi sẵng giọng, hỏi:
-
Có
việc gì mà giờ này anh lại sang phòng làm việc thế?
-
Mai
mình có việc về Hà Nội sớm, sợ không báo kịp cho cậu.
-
Sao
không gọi hay lên tiếng. Nếu tôi bổ một nhát vào đầu thì anh sẽ ra sao hở?
-
Mình
lên tiếng, sợ mọi người mất ngủ! Cũng may mà cậu chưa bổ…
-
Anh
làm thế này thì mọi người ngủ được à?
-
Ừ,
mình sơ ý quá! Mình xin lỗi!
Về sau hỏi lại thì chẳng phải chỉ mình
tôi run đâu, mà vợ chồng ông Quang ngủ trong buồng cũng còn run đến sáng!
Chuyện ấy rồi cũng dần chìm xuống, nhưng
nó lại biến tướng thành một câu chuyện khác hẳn:
- “Anh Trần Hải nửa đêm mò vào chỗ ngủ
của tôi. Bị bắn một phát đạn văng mất “bìu khiu” phải đưa về Hà Nội cấp cứu
ngay đêm đó”.
Mọi người không ai dám hỏi han gì, nhưng
cứ lấm lét nhìn tôi dò xét.
Mãi sau có một cô cấp dưỡng bạo miệng nhất ở cơ
quan rụt rè hỏi:
-
Em
hỏi khí không phải, hôm nọ có phải anh đã bắn văng mất của anh Hải…
-
Cho
chết, ai bảo nửa đêm mò vào giường tôi định…
-
Định
làm gì hở anh???
-
Còn định
làm gì nữa!?
-
Eo
ơi! Sao lại ghê thế nhỉ??? Nhưng mà anh Hải định làm gì hở anh???
-
Làm,
làm cái con khỉ. Cô chưa biết chuyện gì mà đã eo ơi hả? Nếu có chuyện nổ súng
trong đêm thì mọi người phải nghe thấy chứ! Thế đêm qua cô có nghe thấy tiếng
nổ nào không?
-
Không!
Em tưởng em ngủ say không nghe thấy. Thế anh Hải không sao chứ ạ?
-
Súng
có đạn đâu mà nổ! Anh Hải vẫn còn nguyên vẹn, được chưa nào!? Mà này sao cô lại
quan tâm đến anh Hải nhiều thế?
-
Bao
giờ? Em thèm vào quan tâm đến anh ấy!
-
Nhưng
nếu tôi bắn văng …của anh Hải thì cô có bắt tôi đền không?
-
Phải
gió cái nhà anh này nữa! Nói xong cô ta bịt mồm lại cười khinh khích rồi lúc
lắc chạy đi.
Cái mông cứ ngoáy đi, ngoáy lại trông
thật là ngoạn mục.
Hà Nội, 2017.
(1) Mấn: cái váy (từ cổ)
(2) Ghi đông: (Guidon: tiếng
Pháp): tay lái, ghi-đông xe đạp
(3) Cua-rơ: (tiếng Pháp:
Coureur): Vận động viên đua xe đạp
(4) Com-măng-ca: (tiếng Anh:
Command-car) - xe dã chiến quân sự loại nhỏ.
(5) Ê-kíp: (Équipe: tiếng Pháp)
nhóm người cùng làm chung một nhiệm vụ với nhau.
(6) Nã-phá-luân: Napoléon
Bonaparte (15-08-1769 mất 05- 05- 1821): Hoàng đế Pháp vĩ đại nhất. Được mọi
người tôn vinh là Hoàng đế của các Hoàng đế.
(7) Thần hồn nát thần tính:
nỗi lo sợ quá cao làm mình hoảng hốt tăng lên.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét