tháng 5 08, 2016

Cầu Gia Minh


Sau khi ra trường năm 1965 tôi được phân công về làm việc tại Viện Thiết kế Giao thông, số 278 Hàng Bột, Hà nội.
Không được về nơi chôn nhau cắt rốn của mình là Hải Phòng. Cha mẹ và chị hai tôi, nhất là bao bạn bè từ thời thơ ấu, vẫn ở đấy.
Dù ở Thủ đô thật, nhưng gia tài của tôi chỉ có một cái ba-lô cũ, một chỗ nằm trên cái phản gỗ mượn của cơ quan, cùng với ba người nữa trong một gian phòng mười tám mét vuông ở gác tư tập thể Kim Liên, phòng 425. 
Cứ đều đặn vài tháng một lần, tôi làm đơn xin chuyển công tác về Hải Phòng. Đến lần thứ bảy thì tôi được “đồng chí” Lưu là Trưởng phòng Tổ chức cán bộ của Bộ gọi lên bảo:
-   Nếu tôi nhận được thêm lá đơn xin chuyển công tác nữa, thì “đồng chí” sẽ nhận được quyết định chuyển công tác hẳn vào Quảng Bình.
Rồi “đồng chí” Lưu đã cao giọng nói với tôi rằng:
-   Có người tốn bao công sức, cậy cục xin về Hà Nội chả được, đằng này đang ở Hà Nội lại cứ “nguây nguẩy” xin đi nơi khác! Rõ là dở người!
Thế là tôi “tắt ngay” ý định xin chuyển công tác về Hải Phòng!
***
Đi “thập phương, tam đạo” làm cầu, làm đường, tôi vẫn cứ tâm niệm trong lòng là sẽ có một ngày nào đó về Hải Phòng làm một cây cầu hay một đoạn đường để trả cái nghĩa nơi đã sinh ra mình.
Năm 2003 thì phải, tôi được ông bạn học cùng lớp Cầu đường Bách khoa, vào quân đội xuất ngũ với hàm Thượng tá, đang làm tham mưu cho một Công ty Dịch vụ Tổng hợp Hải Phòng, rủ về làm một cái cầu nhỏ qua mương.
Dịp thực hiện ước ao bấy lâu nay đã đến, tôi lập tức nhận lời.
Đồ án thiết kế kỹ thuật đã được Tỉnh ủy duyệt rồi, không phải “lăn tăn” gì nữa. Nhưng hai anh em vẫn cứ rủ nhau đi thị sát hiện trường.  
Đó là một cây cầu dài khoảng gần hai mươi mét, bắc qua một con mương lớn ở xã Gia Minh, huyện Thủy Nguyên, ngoại thành Hải Phòng.
Sau khi đi hiện trường, tôi tìm hiểu thêm về đồ án đã được duyệt.
Để thi công mố bên kia mương, người ta dự tính cho làm một cầu tạm tổng kinh phí lên đến một tỷ sáu trăm triệu đồng.
Ông bạn tôi đã đề xuất với lãnh đạo dùng rầm cầu quân dụng, kết hợp mố rọ đá, nên đã rút xuống còn sáu trăm triệu và được lãnh đạo tỉnh rất hoan nghênh.
Tôi đã từng mò mẫm khắp nơi, đã từng làm nhiều chiếc cầu dài nhiều trăm mét trên tuyến chính của Quốc lộ 1A, nên cũng đã có một số kinh ngiệm.
Với cái cầu nhỏ này, tôi thấy còn có thể làm giản đơn hơn nữa.
Tôi nói với ông bạn:
-  Tôi còn phương án “bùn” hơn phương án đã được cải tiến lần thứ hai!
Ông không tin:
-  Sao còn “bùn” hơn được chứ?
-  Thực tế trong mương có nước, nhưng nước gần như không chảy. Tôi có thể dùng bao tải chứa đất, cát đắp lấn dòng sang bên kia để thi công.
-  Không được. Bên Thủy Nông đời nào đồng ý cho ông ngăn dòng chảy của họ!
-  Không sao. Đắp đến giữa cho một, hai cái cống lù(1) để thông nước là OK ngay.
-  Cũng có vẻ hợp lý!
-  Bây giờ chỉ còn việc cho người mua bao tải dứa ở chợ Sắt, thuê nhân công xúc đất đổ vào là xong. Mua một hai ống lù (cống tròn) thì ở đâu chả có! Như thế là chúng ta chỉ tốn khoảng dưới trăm triệu đã có một con đường tạm sang bên bờ kia.
Ông bạn tôi phấn khởi:
- Lấy đất ở đây thì không thành vấn đề, vì có nhiều hộ dân còn đang thuê xúc đất phá đồi để làm nhà cơ mà. Tôi có quen với bà Phó Bí thư Huyện ủy, cần thì tôi liên hệ nhờ bà ấy giúp.
-  Đất ở đây đầy, việc gì phải nhờ vả cho thêm phiền! Tôi chủ quan nói.
Ấy vậy mà, đất ở đây tuy không thiếu, nhưng khi cho người xúc vào bao tải lại không đơn giản như đã nghĩ. Bọn tôi đã tìm đến nhờ cậy bà Phó Bí thư cũng chẳng ăn thua gì. Lúc tìm hiểu kỹ mới rõ là đất trong địa bàn huyện Thủy Nguyên có các đơn vị Bộ đội đóng quân để “bảo vệ bờ cõi”, nên nó lại thuộc về Quân đội quản lý! Muốn lấy đất ở những đồi hoang bạt ngàn này, phải xin phép Thành đội!
Chạy đi chạy lại đến năm lần, bảy lượt, mà thấy chẳng tiến thêm được bước nào!
Họ hỏi chúng tôi:
-  Các anh lấy hàng ngàn bao tải đất để làm gì?
Giải thích kiểu gì họ vẫn “không thông”, vì Tỉnh ủy với Thành đội có bao giờ ngồi “chuyện trò” với nhau về chuyện xây dựng cầu đường đâu? Một bên thì “lãnh đạo” về “phần hồn”, còn một bên lại “chỉ huy” về “phần xác”!
Đến hơn nửa tháng chúng tôi thật sự nản chí, cuối cùng chỉ còn một cách là “đem cúng” cho Ban Giám đốc Dự án để làm món quà ra mắt.
Sau khi nghe chúng tôi trình bày xong, ngay buổi chiều ấy ông Giám đốc trẻ Phạm Văn Đào đã ra lệnh cho công nhân tiến hành làm ngay. Con đường tạm ấy chỉ tốn gần bốn chục triệu, mà sau này xe chở đất trên ba mươi tấn chạy ầm ầm vẫn không suy suyển.
Con đường tạm này còn có một ưu điểm nổi bật nữa là sau khi đã hoàn thành nhiệm vụ, chỉ cần ra lệnh cho nông dân bao tải và cống lù là họ sẽ nhanh chóng dọn “sạch như chùi”, không cần phài thanh thải lòng mương như các phương án khác. 
Từ một đồ án thiết kế dùng bốn rầm chữ T đổ tại chỗ, móng mố cầu một bên đặt trên nền bùn loãng, một bên đào xuống đá gốc hơn một mét.
Chúng tôi phải vất vả năm lần, bảy lượt xin được thay đổi cả rầm đến móng mố cho hợp lý hơn mà bên A(2) vẫn chưa chịu chấp nhận.
Một lần mấy “ông trẻ” bên A nói:
- Đồ án này đã được Thành ủy duyệt rồi. Các anh muốn làm thì phải làm đúng như bản vẽ. Nếu không làm được thì để chúng tôi gọi đơn vị khác.
- Xin hỏi lại các anh, rầm chữ T đổ tại chỗ thì sau khi hoàn thành việc đúc bê-tông xong chỉ còn rỡ ra bán sắt vụn, chứ không thể giữ để đổ rầm cho lần sau được, vì không nơi nào còn áp dụng đúng kích cỡ của bộ rầm này nữa. Do đó giá thành rầm sẽ tăng lên hơn gấp đôi, nếu như ta mua rầm đúc sẵn của nhà máy bê-tông chuyên dụng.
Còn về mố phía Bắc đặt trên nền bùn loãng thì làm sao tránh lún được? Sao không hạ thêm hơn hai mươi cen-ti-mét để “ngồi” trên nền đá gốc. Mố phía Nam đào xuống đá gốc một mét rưỡi để làm gi? Và đào đá bằng cách nào? Nổ mìn “thì bên Quân sự không cho phép”, còn đào thủ công phải mất hơn một năm.
Nhưng “vị chủ nhiệm đồ án” lại “phán” là sở dĩ để đáy móng mố hai bên cùng cao độ thì “bản vẽ nó mới đẹp”!!!?
Tất cả các lý do “chưa hợp lý” trong đồ án thiết kế chỉ là “chuyện vặt” của mấy “xừ” “kỹ sư bản địa”, ta vẫn còn có thể thông cảm được. Họ còn rất trẻ và lại là “con ông, cháu cha”, quen nũng nịu, muốn gì mà các “bậc phụ huynh” không “phải chiều” theo ý họ?
Tất nhiên sau một hồi đề xuất và tranh cãi và cũng lại bởi vì tôi đã công tác ở Viện Thiết kế Giao thông bốn mươi năm, nên bên A cũng dần hiểu ra ý kiến xin thay đổi thiết kế của chúng tôi có phần hợp lý. Thành ủy cũng thấy ý kiến mới ấy tiết kiệm so với đồ án cũ đã duyệt tới hai chục phần trăm. Lại nữa, ông thày đứng sau chỉ đạo thiết kế đồ án này học sau tôi những mười bảy năm trong trường Kỹ thuật. 
Thế là từ rầm cầu đến hai mố cầu đều thay đổi, biến thành một cây cầu mới khác hẳn với cây cầu được thiết kế và Thành ủy đã duyệt lúc ban đầu.
***
Sau đó ít ngày, Giám đốc Đào cho gọi tôi một mình vào phòng riêng để nói:
- Bác đã đưa ý kiến làm cầu tạm tiết kiệm hơn tỷ đồng cho Công ty và ý kiến xin thay đổi đồ án của bác đã được Thành ủy phê chuẩn. Chúng tôi đồng ý ký hợp đồng để bác được thi công cầu Gia Minh. Tuy nhiên bác vẫn phải tuân thủ những điều luật bất thành văn của chúng tôi.
- Đó là những luật gì thưa Giám đốc?
- Tức là bác phải hồi lại cho chúng tôi:
                       * Cầu là 30%   -   * Đường là 50%.
- Cụ thể là thế nào ạ?
- À, tôi được biết bác chưa làm Nhà thầu bao giờ, nên để tôi giải thích cho bác hiểu. Đó là khi bác ký nhận ở quỹ số tiền là A thì bác chỉ được cầm về 50% hoặc 70% số A đó thôi.
- Thế số còn lại dùng làm gì?
- Đó là phần trích lại để nuôi bộ máy làm việc của cơ quan chúng tôi! 
- Tôi tưởng cơ quan đã có nhà nước “nuôi” rồi!?
- Bác phải hiểu rằng, có ai sống được bằng lương không?
Tôi thực sự choáng váng và tưởng đã phải bỏ cuộc. Nhưng cũng may có cậu Thanh, người cộng tác của tôi, đội trưởng một đội cầu của nhà nước biết, nó thản nhiên bảo tôi:
- Không sao đâu bác ạ. Những công trình nhà nước mà cháu đã từng thi công còn bị bọn nó “thăn” như thế, nói gì bên ngoài. Bác cứ ký đi, cháu vẫn làm được!
Thế rồi chẳng hiểu sao cậu Thanh vẫn làm được cầu, nuôi được quân và nuôi cả tôi nữa.
Tôi lắm lúc cứ lẩn thẩn nghĩ chẳng hiểu ra làm sao nữa!
Có lần tôi được nghe một bà hàng xóm ru cháu:
- Trời sinh ra cái con trâu, cũng sinh con đỉa để “bâu” vào đùi!
Có lẽ đúng là thế thật!


Hà Nội, 2016.
(1)   Cống lù: cống tròn đúc sẵn bằng bê-tông cốt thép.
(2)  Bên A: bên chủ đầu tư dự án nắm tiền và được quyền kiểm tra bên thi công: bên B.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét