tháng 7 19, 2021

Năm mốt năm ngày cưới







 

Sen hồng - Ảnh TR Dao



 

Tiến sĩ Văn học Mai Thanh & “Đội Ngự” - Ghi chép


Sau bao đắn đo, trăn trở, lựa chọn cuối cùng của tôi là đem truyện đi xuất bản.

Đầu năm 2012 nhà xuất bản Hội Nhà Văn cho in tập truyện ngắn “Đội Ngự” chỉ có 30 truyện, dầy chưa đến ba trăm trang.  

Tháng 08-2012 tập “Đội Ngự” đến tay Mai Thanh, một Tiến sĩ Văn học Tốt nghiệp tại CHLB Đức.

Ông viết:

Đọc bài giới thiệu "Những người quanh ta" của Mai Thanh
          http://trithucthoidai.vn/nhung-nguoi-quanh-ta-a49625.html

"Những người quanh ta"

08-08-2012 | 04:05

Tập sách gồm 30 truyện ngắn - Ở mỗi truyện hiển thị một vài nhân vật mà ta thường gặp trong cuộc sống qua nhiều thập kỷ nay. Mỗi nhân vật có hoàn cảnh, thân phận, phẩm chất và tính cách riêng.



     Đó là đội Ngự (“Đội Ngự”, tr.5 – được lấy tên đặt cho tập sách), là lính bảo hoàng trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, trong khi, cô Mai – vợ anh lại là xã đội trưởng, phụ trách đội du kích chống càn, đánh đồn rất anh dũng. Địch bắt được Mai và chúng biết rõ Mai chính là vợ của Ngự. Tên tây lai đồn trưởng gọi Ngự đến để hai vợ chồng nhận nhau, từ đó, hy vọng Mai sẽ khai báo tất cả cơ sở bí mật của ta. Mai đưa mắt làm tín hiệu cho Ngự để họ không nhận nhau là vợ chồng và khước từ mọi yêu cầu của chúng. Tên đồn trưởng đưa khẩu súng lục cho Ngự ra lệnh cho Ngự bắn chết vợ. Ngự bàng hoàng, không thi hành lệnh. Một lần nữa, Mai lại đưa mắt nhìn Ngự, như năn nỉ “anh cứ bắn em đi; ở trên trời cao kia em hiểu anh và tha thứ cho anh!”. Trong khi đó, tên đồn trưởng la hét, giục giã Ngự làm cái việc mà ai trong hoàn cảnh ấy cũng không chịu nổi. Mai lại đưa mắt nhìn Ngự như ra lệnh – một mệnh lệnh còn hiệu lực hơn cả mệnh lệnh của tên đồn trưởng. Khẩu súng trong tay Ngự khạc ra tiếng nổ. Máu từ ngực Mai bắn ra tung tóe, cô ngã gục, Ngự cũng ngã xuống theo vợ. Sau cơn bàng hoàng, Ngự nâng vợ lên, anh gục xuống, lịm đi! “Sau khi chôn cất Mai, anh chỉ còn lặng lẽ như một cái bóng. Anh không nói gì và cũng không ai dám nói gì với anh. Anh sống vật vờ, câm lặng và đôi khi thấy anh ngước lên trời như đang tìm kiếm ai ở đó” (tr.19).

      Đó là cô Lanh (“Cái vỏ”, tr. 21) góa chồng từ khi 18 tuổi, mọi đòi hỏi ham muốn dục tình bị nén lại qua lao động như trâu húc mả, khiến cho các nhà lãnh đạo, quản lý khâm phục, rồi bồi dưỡng Lanh trở thành anh hùng lao động. Khi trở thành anh hùng lao động, Lanh lên chức như diều, trong khi ham muốn dục tình không thể nguôi ngoai, nhưng lại muốn giữ mình, nên cô thầm kín quan hệ, có khi với một nam nhân viên cấp dưới, có khi với chàng trai giúp việc trong nhà. Có thai nhiều lần, nhưng vì chức cao quyền trọng, nên cô đều phá thai. Thế rồi, đến một lần chuyện phá thai không trót lọt, Lanh bị phát hiện và bị kiểm điểm, rồi bị thi hành kỷ luật, xuống “phụ trách” trại chăn nuôi. Thân bại, danh liệt, cô ốm đau rồi chết trong một đêm mưa buồn. Nhân vật trong truyện đối thoại với Lanh giúp người đọc thấy bản chất con người Lanh: “Bản chất chị không phải là người xấu...Nhưng chị bị người ta biến thành một người khác, được bọc một cái vỏ hoàn toàn không phù hợp với con người thực của chị... Xung quanh toàn bọn tay chân nịnh bợ và vì thế chúng đã biến chị thành quái vật...Phải chăng do luyến tiếc cái vỏ hào nhoáng kia mà chị đã không gớm tay hạ thủ chính con mình đẻ ra.” (tr39).

     Đó là Ngát (“Chàng gàn” – tr.103) làm công việc kiểm tra chất lượng công trình ở một công trường nọ. Với công việc ấy, nếu anh làm qua loa, xí xóa cho  các đội xây dựng bớt xén nguyên vật liệu và làm ẩu, thì anh tất yếu được nhận những khoản “thù lao” hậu hĩnh. Nhưng, anh đã làm ngược lại, nên không những túi rỗng mà còn bị chê là gàn. Cũng bị chê là gàn, khi anh thẳng thắn đấu tranh chống lại những nếp nghĩ, những việc làm sai trái ở công trường mình. Nhiều người không chỉ chế giễu Ngát  là gàn, mà còn coi anh là cám hấp, là chập mạch, vì anh nhường suất nhà của anh - do cơ quan phân - cho người khác, trong khi hai vợ chồng anh và đứa con nhỏ đang ở nhờ dưới cái mái Tam quan vẻn vẹn gần ba mét vuông của một ngôi chùa. Người ta gọi Ngát là chàng gàn, chàng hấp, nhưng anh ý thức và tự hào về những điều anh nghĩ, những việc anh làm. Cũng vậy, vợ anh cũng ý thức và tự hào về chồng mình, Chị tâm sự với anh: “Nhiều người bảo anh là gàn, là hấp, nhưng với em, anh là một người đàn ông tuyệt diệu nhất...” (tr.123).

     Đó là Liên (“Liên”, tr.130) có một người chồng nói chung là tốt. Tuy nhiên, vì quá ham mê đọc sách đến mức gần như quên mình có vợ. Lời một nhân vật kể về cuộc sống hôn nhân của vợ chồng Liên: “Bây giờ chúng nó vẫn còn rất thương nhau. Nhưng “có ở trong chăn mới biết chăn có rận”. Nó bảo anh ấy cứ đều đặn một giờ sáng trở dậy đọc sách đến bảy giờ. Lục cơm nguội, có thì ăn, không thì thôi, sau đó lặng lẽ dắt xe đi làm đến tối... Ngoài sách vở thì anh chẳng chú ý đến cái gì nữa... Nó còn bảo, có khi cả tháng anh ấy chẳng nói với nó một câu, hỏi nó một lời, cứ lặng lẽ như cái bóng... Thế rồi nó lẩn thẩn nghĩ rằng, hay là giả vờ ngoại tình để anh ấy phải chú ý đến nó. Nhưng nào ngờ giả hóa thật, thằng cha kia “cứ dính như keo, giằng không đứt, dứt chẳng ra” (tr.138). Thế là Liên sa vào nhiều cuộc ngoại tình tiếp theo; vợ chồng ly dị, Liên lấy một ông chồng hơn mình hai chục tuổi. Cô ốm yếu, rồi chết trong cảnh buồn thảm.

     Đó là vị hòa thượng trụ trì ở một ngôi chùa nọ đã có cuộc tình duyên trắc trở từ thời trai trẻ (“Báu vật”, tr.180). Chàng trai ấy khỏe mạnh, đẹp trai,  nhưng nhà nghèo và cô gái xinh xắn, nết na con nhà phú hộ giàu có yêu nhau, nhưng họ không lấy được nhau. Nàng đi lấy chồng; chàng xuất gia, lên chùa xuống tóc từ đó. Rồi một chiều mùa đông, có một cậu trai đến gặp hòa thượng mang theo một chiếc hộp gỗ nhỏ cũ kỹ dâng cho hòa thượng. Hòa thượng mở hộp hộp gỗ ra, thì đó là một con trâu đất mà thuở thiếu thời, hòa thượng đã nặn và tặng người yêu mình và cũng chính là người mẹ của cậu trai kia. Trước khi qua đời, người mẹ tội nghiệp ấy giao cho con cái hộp gỗ với con trâu đất và dặn con đến chùa dâng tận tay hòa thượng. Mắt rưng rưng, hòa thượng ngắm nhìn, tay vuốt ve con trâu đất; chào từ biệt chàng trai rồi đi vào phòng trong đóng cửa. “Hôm sau, đã muộn không thấy nhà sư trở ra, người ta đẩy cửa vào thì thấy người ngồi thiền ngay ngắn trước ban thờ Phật nhưng đã viên tịch từ lúc nào, hai tay vẫn trân trọng ôm chiếc hộp gỗ nhỏ cũ kỹ như một báu vật” (tr.189).

      Chỉ qua năm truyện ngắn trong tập, bạn đọc đã gặp quanh ta những con người muôn vẻ cuộc đời mà phần đông là hoàn cảnh, số phận bất ổn của họ.Với cả ba mươi truyện ngắn của Trần Quốc Khánh bạn đọc sẽ còn gặp nhiều hơn thế nữa những nhân vật, mà thực chất là những người quanh ta với mọi dạng vẻ như chính cuộc sống vậy đã tồn tại qua nhiều thập kỷ và còn hiện hữu cả đến hôm nay.

     Hình thức thể hiện của truyện ngắn Trần Quốc Khánh theo lối truyền thống; rất chú ý xây dựng tính cách nhân vật trung tâm, khiến người đọc cảm thấy các nhân vật trung tâm ấy càng thêm gần gũi, như họ là những người quanh ta vậy!

Mai Thanh

Họ tên: Mai Thanh – Tiến sĩ Văn học Tốt nghiệp tại CHLB Đức

Giới tính: Nam

Ngày sinh: 05/12/1952

Địa chỉ hiện tại: Bộ Thông tin và Truyền Thông

Liên hệ:           Điện thoại: 01248355940      Email: maithanh52@gmail.com

 

 

 

tháng 7 17, 2021

Hà Nội - Hà Nội


 

Yêu biết bao nhiêu các cháu của tôi


 

Được gặp bác Tô Hoài - Truyện ngắn

Sau khi tờ báo bị đóng cửa, tôi như thằng hủi, không ai dám gần. Do học lớp cuối cấp, cuối năm ấy tôi bị tống ra khỏi trường, không được thi tốt nghiệp, cũng không được học lại. Cầm quyển học bạ với lời phê của giáo viên chủ nhiệm: “Không đủ tư cách thi tốt nghiệp”! Tôi bơ vơ giữa dòng đời, lòng trống rỗng và hoang mang đến cùng cực.

Mãi đến giờ, khi đã già rồi, tôi vẫn không hiểu tại sao lại như thế? Mình lại bị như thế?

Tuy nhiên, tôi, “cái thằng không có đủ tư cách” ấy, hằng ngày vẫn phải ăn, vẫn phải tồn tại. Thế là đi làm cu-li, đẩy xe than, bơm vá xe đạp ở đầu đường. Làm đủ trăm nghề, nghề nào cũng qua, chỉ có nghề ăn cắp là chưa trải, nhưng vẫn không ngừng viết.

Chỉ có việc gửi bài viết đi cho đài, báo đăng thì dù “bố bảo cũng không dám” nữa!

Lúc đã già, trên bảy mươi tuổi thì tôi đã viết được khá nhiều. Nhưng cứ tâm niệm bụng bảo dạ là khi nào sắp chết phải dối dăng lại cho con cháu: nhớ đốt đi kẻo mang vạ vào thân!

Một hôm Hiếu Dân cậu bạn trẻ, rất giỏi vi-tính đến chơi báo cho biết là trên một trang Web (mạng toàn cầu) của nước ngoài mang tên: vantuyen. net có đăng truyện ngắn “Đội Ngự” của  tôi. Nó được xếp trang trọng dưới tiêu đề Hội ngộ Văn chương Toàn cầu. Số bạn đọc mới vài tháng, đã tới gần 6000 lượt người.

Bạn bè biết chuyện lại gọi điện đến chúc mừng. 

Hỏi ra mới biết Ngọc Hoàn có đem quyển sách của tôi viết về Hải Phòng, rồi đưa cho ông em họ là Bùi Ngọc Tấn một nhà văn có tên tuổi đọc. Ông văn sĩ già này có lẽ khoai khoái thế nào ấy, nên khi qua Mỹ thăm con, mang theo quyền sách ấy. Rồi cũng chẳng hiểu sao họ tung truyện “Đội Ngự” tôi viết lên mạng.

Còn chưa kịp mừng, thì một ông bạn làm Công an đến bảo:

- Đừng “vẫy đuôi” vội! Trong nước chưa ai biết, chưa chỗ nào đăng cả, mà truyện của ông đã được mạng ở nước ngoài đăng lên một cách trang trọng, tức là có vấn đề đấy!

Thử ví dụ thế này: Mấy “xừ” An ninh mạng, đúng lúc đang gặp chuyện gì đó bực mình, lại “liếc” vào trang Web đó, gọi ông lên cho mấy cái bạt tai thì mả bố ông chôn chỗ nào cũng phải tông tốc khai ra hết.    

Suy nghĩ kỹ thì cũng đáng lo thật. Mọi người bàn là nên gặp một nhà văn có uy tín để xin ý kiến, tôi quyết định tìm đến nhà văn Tô Hoài, người mà tôi yêu quý từ khi còn thơ bé với “Dế mèn phiêu lưu ký” của cụ.  

Để gặp được một nhà văn lớn, nổi tiếng, đã ở tuổi chín mươi, lại rất sợ sự quấy rầy của đủ các loại người, không phải là dễ.

Tôi không có ý định núp dưới bóng râm của cây đại thụ nào và không có ý định ra sách. Lại càng không muốn nhuộm cùng màu với bất kỳ ai.

Thế rồi đã rất kỳ công, tôi cũng đã mò mẫm mấy tháng trời mà vẫn không được gặp cụ.

Cụ bà Cúc, vợ nhà văn nói với tôi:

- “Ông ấy đã già rồi, lại lắm bệnh tật, nên không gặp bất kỳ một ai. Muốn ông ấy góp ý, thì đưa vài truyện cho ông ấy đọc. Có khỏe ông mới đọc được, vì thế cũng không thể hẹn trước. Sau đó ông ấy sẽ góp ý nhiều hay ít là tùy vào truyện. Cỡ một tháng nữa ông hãy quay lại đây”.

Tôi đã làm theo lời dặn dò của bà lão cũng chỉ kém cụ ông vài ba tuổi, đi lại ba, bốn tháng vẫn chưa được nhà văn góp ý. Lần thứ tư, tôi sững sờ khi nghe bà cụ nói:

- Tôi có giục, nhưng lần này ông ấy bảo: - “Ông này tôi phải gặp”!

***

Bà con gái cả của cụ là người gặp tôi đầu tiên ở ngoài cổng, hỏi:

- Ông có được bố tôi hẹn gặp không?

Cảm động nhất là khi nghe thấy tôi hỏi thăm đến nhà, cụ đã lần tường ra đón tôi tận cổng. Lần đầu tiên được tiếp xúc với một nhà văn lớn, rất nổi tiếng ở mãi Nghĩa Tân, nhà bà con gái đầu của cụ cũng đã trên sáu mươi, làm nghề thuốc, tiện chăm sóc cho bố và cũng tiện để cụ “lánh” những cuộc gặp gỡ không cần thiết!

Đó là một cụ già đã chín chục tuổi, thấp bé, giản dị. Lần gặp gỡ này kéo dài tận hai tiếng đồng hồ, đã vài lần tôi đứng dậy xin phép cụ ra về vì sợ cụ mệt, nhưng cụ đều giữ lại. Trong chuyện trò cụ kiệm lời, nói năng nhỏ nhẹ và đặc biệt là cụ nói chuyện rất có duyên và hóm hỉnh. 

Trong khi trò chuyện, cụ đã nói với tôi:

- Nếu muốn viết và để có thể trở thành một nhà văn thì nhất thiết phải có hai thứ:

* Thứ nhất là phải giàu vốn sống.

* Thứ hai là phải giàu vốn từ.

Tôi đùa hỏi lại cụ:

- Thưa bác, thế không cần giàu tiền bạc ạ?

Cụ cười hiền lành, chỉ nhìn tôi không nói.

Khi tôi từ biệt cụ ra về, cụ nhất định tiễn tôi ra tận cổng.

Bắt tay từ biệt, cụ nói thêm một câu:

- Ở ông, có cả hai thứ đó.

- Thưa bác, bác nói cháu có cả hai thứ gì ạ?

- Cái mà tôi nói lúc nãy ấy. Hãy viết nữa đi!

Tôi dùng dằng, mãi sau mới dám nói:

- Cháu cứ nghĩ là khó mà được gặp bác, nhưng hôm nay cháu thật may mắn đã được gặp và chuyện trò với bác. Cháu xin phép hằng tháng được đến thăm bác, không biết như thế có làm phiền bác không ạ?

- Không sao. Ông không cần xin phép. Muốn đến chơi với tôi thì phải gọi trước. Bởi tôi thường xuyên thay đổi chỗ ở.

Lúc mới quen cụ vẫn gọi tôi là ông, bởi dù sao tôi cũng là một ông già trên bảy mươi tuổi rồi còn gì nữa. Tôi sinh sau cụ mười chín năm.

Thế là từ đấy tôi thường đến thăm ông cụ hiền lành, giản dị nhưng cũng rất nổi tiếng ấy. Các lần sau tôi thường đưa những tác phẩm nhỏ bé của mình cho ông cụ đọc rồi xin cụ góp ý. Nhưng do rất kiệm lời nên cụ chỉ khuyên tôi:

- Anh - sau này khi đã thân mật, cụ đổi cách xưng hô gọi tôi bằng anh chứ không gọi là ông như trước nữa - nên đưa cho các tạp chí đăng bài, vừa có nhuận bút. Khi nào tập hợp được nhiều nhiều, họ sẽ xuất bản mà mình không phải bỏ vốn ra in.

- Thưa bác cháu đã đưa bài cho Tạp chí Văn nghệ ở 17 Trần Quốc Toản, từ mấy năm nay, nhưng chỉ được họ nhận bài, khen viết tốt nhưng không thấy họ đăng.

- Nếu thế anh đưa bài sang cho Tạp chí Hội Nhà văn, ở 65 Nguyễn Du. Để tôi gọi điện thoại giới thiệu anh với Tổng biên tập. Trước tôi đã từng làm việc ở đấy.

Tôi đến địa chỉ trên, ông Tổng biên tập Nguyễn Tr. đã ra tận cổng đón, vui vẻ mời tôi vào phòng làm việc.

Cũng đi lại như đã đi lại ở Tạp chí Văn Nghệ, năm lần, bảy lượt, cũng được khen là bài viết tốt, tuy nhiên vẫn không được đăng. Lần thứ năm, thứ sáu gì đó ông Tr. mới bùi ngùi nói với tôi:

- Tạp chí chúng tôi còn nghèo lắm. Để đăng bài cho hội viên trong hội Nhà văn cũng đã chật vật lắm rồi. Bài của người ngoài hội phải được đánh giá là rất xuất sắc mới đăng. Chúng tôi rất lấy làm tiếc. Anh thông cảm.

Ra về tôi hiểu là những bài viết của tôi tuy được khen là tốt nhưng chưa thể gọi là “rất xuất sắc” để được đăng trên tạp chí và vì “tạp chí rất nghèo”, … 

Lần sau đến thăm cụ, cụ có hỏi tôi là đã gặp ông Tr. chưa. Tôi đành nói thật:

- Không phải cháu không lo được vài triệu đưa cho Tạp chí để đăng bài. Nhưng làm như vậy, cháu cứ thấy nó hèn hèn thế nào ấy.

Cụ chỉ đăm đăm nhìn tôi mà không nói gì cả.

Cuối cùng cụ khuyên tôi:

- Chỉ còn cách đưa cho nhà xuất bản. Nhưng như vậy sẽ tốn kém đấy. Tôi thấy anh không phải là người nhiều tiền, nên phải cố gắng vậy thôi. Thời tôi còn khỏe đi làm, thì nhà xuất bản sẽ hỗ trợ cho tác giả sách mấy chục phần trăm. Nhưng bây giờ không biết có còn chế độ này nữa không?

Tôi thấy yêu mến cụ già tốt bụng này biết bao. Cứ suy từ cụ mà ra, là một nhà văn nổi tiếng với bao nhiêu giải thưởng lớn của nhà nước và của cả quốc tế, đi nước ngài trên chục lần, mà đến thăm cụ quan sát thì chung quanh cụ chỉ toàn sách là sách, sách nhiều vô kể. Một bộ bàn ghế xuềnh xoàng để tiếp khách, một cái bàn viết nhỏ quay mặt ra cái cửa sổ và một vỉa hè vắng vẻ, một cái đèn bàn rẻ tiền và một cái quạt cây cũ kỹ. Bên trong phòng ngủ có một cái giường nhỏ và một cái ti-vi cổ, đít lồi.

Hà Nội vào mùa hè có những hôm nóng đến ba tám, ba chín độ, mà chỗ ở một danh nhân không có nổi cái điều hòa!

Có một số người nói với tôi:

- Có khi cụ không chịu được điều hòa nên không lắp.

Có người còn ác ý nói:

- Có khi ông cụ “đóng kịch” đấy!

Tôi thì tôi nghĩ khác. Một người như cụ tuổi đã trên chín chục, gần đất xa trời rồi còn “đóng kịch” thì đóng để ai xem? Mà đóng kịch vì mục đích gì cơ chứ! Để tỏ ra đặc biệt khác người, để nổi tiếng à? Cụ đã chẳng phải chạy trốn “cái sự nổi tiếng” rất vất vả đó sao!

Có lần cụ đã nói với tôi:

- Nghề viết văn không làm giàu được. Muốn làm giàu thì đừng viết văn!

Nhưng viết, là cái nghiệp. Nó đã vận vào thân, gỡ cũng chẳng ra. Mà gỡ ra rồi để làm vương, làm tướng gì? Kinh doanh làm giàu à? Hay phấn đấu để trở thành “đầy tớ của dân”!

***

Cuối cùng chỉ còn cách đưa truyện cho một nhà xuất bản nào đó duyệt rồi in ra sách. Lúc ấy họa may mới tránh được tai họa.

Thế rồi phải vay mỗi nơi một ít, xin vợ bớt tiền ăn hằng tháng để xuất bản tập truyện đầu tay chỉ gồm có ba mươi truyện ngắn.

 

Hà Nội, 2021.