Đúng lúc cuộc cãi vã đến đoạn căng thẳng nhất giữa tôi và chú em về việc tổ
chúc cho cả nhà đi Thanh minh, tức là thắp hương cho mồ mà tổ tiên hằng năm,
thì ông bạn thân của tôi đến chơi.
Ông là giáo sư khao học của một trường Đại học danh tiếng nhất nhì Anh
quốc, trường Cambridge. Ông không những giỏi về chuyên ngành ông nghiên cứu:
ngành khoa học vũ trụ, mà các lĩnh vực khác ông cũng rất uyên thâm.
Sau chào hỏi, pha nước mời khách, chúng tôi lại quay lại đề tài cũ. Chú em
tôi nhân có khách thì cũng tranh thủ phân trần:
- Bác Tạc nói xem có phải từ xưa các cụ đã dạy là thanh minh trong tiết
tháng ba không? Thế mà ông anh em lại nói chưa đúng, chưa phải là thế nào?!
- Thế ông Kha thì nói sao? Ông quay lại hỏi tôi.
- Câu thanh minh trong tiết tháng ba là câu trích trong truyện Kiều, chứ
không phải câu của các cụ dặn!
- Câu trích trong truyện Kiều của đại văn hào Nguyễn Du cũng là chuẩn lắm
rồi, còn phải xem xét lại gì nũa!
- Chú nói chỉ đúng có một phần, chứ không chuẩn hẳn!
- Bác nói có cái gì chưa chuẩn? Ông bạn tôi hỏi lại.
- Các tình tiết trong truyện Kiều, đều là của Tàu, thuộc về Tàu từ hơi thở
đến nội dung, hãy đọc hai câu trong Kiều:
Rằng năm Gia Tĩnh
triều Minh, (câu 9)
Bốn phương phẳng
lặng, hai kinh vững vàng. (câu 10)
Việt Nam ta làm gì có triều Minh? Hai kinh là Bắc kinh, Nam kinh ở bên Tàu,
chứ có phải ở ta đâu?
Do thời tiết bên Tàu rất lạnh, mùa Đông và mùa Xuân tuyết phủ dầy khắp nơi,
nên mới phải đợi đến tháng ba tuyết tan mới dọn dẹp và quét tước mộ phần được.
Vì thế nên trong Kiều mới có câu:
Thanh minh trong tiết
tháng ba, (câu 43)
Lễ là tảo mộ, hội là Đạp
thanh. (câu 44)
Vì thế, nếu rập khuôn theo truyện Kiều của Tàu thì lúc đó thời tiết bên ta,
tháng Ba đã sang đầu hè rồi, trời bắt đầu nóng rồi, đi tảo mộ là không thích
hợp nữa.
- Vậy theo ông thì tảo mộ vào lúc nào là hợp? Ông bạn tôi vừa cười vừa hỏi.
- Rất nhiều người Việt Nam ta thường giáp tết lên quét dọn mộ phần rồi làm
lễ mời người thân đã khuất về sum họp, ăn tết với gia đình, con cháu là hợp nhất,
hợp lý nhất, Việt Nam nhất.
- Thế bác Kha cháu nói thế, có đúng không ạ? Chú em tôi hỏi lại ông bạn uyên
bác của tôi.
- Bác Kha nói thế là đúng đấy, có lý đấy. Ta nên theo cái tập tục của ta,
chứ sao lại đi lệ thuộc vào một câu chuyện của Tàu, ở bên Tàu.
Cuối cùng theo tôi biết thì truyện Kiều, không phải là sáng tác của cụ
Nguyễn Du. Cụ Nguyễn Du chỉ là người biên dịch truyện Đoạn trường Tân thanh truyện
của Thanh Tâm Tài Nhân (người Tàu) từ văn xuôi chữ Hán sang tiếng Việt theo thể
thơ lục bát. Mặc dầu cụ Nguyễn Du là người rất giỏi, rất tài năng, biên dịch
rất hay, thậm chí bản biên dịch của cụ còn hay hơn nguyên bản.
Và cũng bởi cụ Nguyễn Du không thể sinh vào thời nhà Minh và là đồng bào
cùng thời với Mã Giám Sinh, với Thúc Sinh và Từ Hải,... được.
Ông em tôi đã bảy mươi nói vội như đã hiểu ra vấn đề.
- Nếu các bác nói rõ ràng ngọn ngành ngay từ đầu, thì em cãi các bác làm
gì!
Hà
Nội, 2023.
Một số suy ngẫm
về “Kiều Việt” và “Kiều Tàu”!
Tản mạn – Hoài Nguyễn
***
Trong nền văn học Việt Nam, có lẽ ai cũng từng đọc qua hoặc nghêu ngao vài
câu lục bát trong “Truyện Kiều” của Đại thi hào Nguyễn Du và có khi cũng nghĩ
đó là một câu chuyện “thuần Việt”!
Thực ra thì cụ Tố Như – Tiên Điền đã “vay mượn” hầu như toàn bộ một truyện
thuộc thể tiểu thuyết chương hồi tận bên Tàu – đó là tác phẩm “Kim Vân Kiều
truyện” (Đoạn trường tân thanh) của Thanh Tâm Tài Nhân, một tác giả đời nhà
Minh viết khoảng đầu thế kỷ XVII.
Cái tuyệt vời của cụ Nguyễn Du là từ câu chuyện văn xuôi bằng chữ Hán, ông
đã chuyển thể thành truyện thơ viết theo thể lục bát chữ Nôm, và từ đó “Truyện
Kiều” đã đi vào tâm hồn người Việt hơn ba trăm năm…
Thanh Tâm Tài Nhân, tên thật là Từ Văn Trường, tức Từ Vị, còn có một số bút
danh khác là Thiện Tri, Thanh đằng, Điền Thủy Nguyệt. Theo nhiều tư liệu, sử
sách chép ông sinh năm 1521, mất năm 1593, đương thời với ca kỹ tên Vương Thúy
Kiều và thủ lĩnh cướp biển Từ Hải. Ông quê ở huyện Sơn Âm, tỉnh Chiết Giang,
học giỏi, hiểu biết rộng, nhưng đi thi không đỗ, bèn làm mặc khách của Hồ Tông
Hiến.
Sinh thời, đã có lần Thanh Tâm Tài Nhân thảo tờ biểu “Dâng hươu trắng” cho
vua nên trở thành nổi tiếng.
Các tư liệu cho biết Thanh Tâm Tài Nhân đã dựa vào bản ghi chép tay của Mao
Khôn (1512 - 1601) ghi chép lại trong cuốn sách Kỷ tiễu trừ Từ Hải bản mạt, vì
Mao Khôn đã từng phục vụ trong quân ngũ của Hồ Tôn Hiến và ghi chép lại sự việc
như một trang kỷ yếu ghi chép thời giao tranh để hư cấu thêm thắt các nhân vật
và viết thành thể loại tiểu thuyết cổ điển chương hồi.
Bản của Mao Khôn chép:
“Vương Thúy Kiều là kỹ nữ Lâm Tri, đầu tiên là Kiều Nhi, giỏi hát lối mới,
thạo hồ cầm. Sau tìm cách trốn khỏi nhà xướng ca, đổi tên ở bên bờ biển. Nụy
khấu đánh Giang Nam, bắt Thúy Kiều mang đi rồi trở thành áp trại phu nhân của
Từ Hải. Từ Hải rất yêu quý nàng, mọi kế hoạch đều nghe theo nàng. Quan quân
phái người đến chiêu hàng, Kiều đem nhiều việc đến khuyên, Hải mới quyết tâm
hàng. Quan quân bố trí kế hoạch, Từ Hải thua chết, Thúy Kiều cũng bị quan quân
cướp. Sau khi bị Đốc phủ làm ô nhục, Kiều bị gả cho tù trưởng Vĩnh Thuận làm
thiếp. Trên đường qua sông Tiền Đường, Thúy Kiều than: Minh Sơn hậu đãi ta, ta
vì việc nước dụ chàng mà bị hại. Giết một người chồng rồi lại lấy một người
chồng, còn mặt mũi nào sống nữa! Bèn nhảy xuống sông mà chết.”
Thanh Tâm Tài Nhân cũng thêm thắt từ một vài nguồn khác khi miêu tả “Thúy
Kiều thành một người đẹp đa tài, trang nhã, đáng kính, đáng yêu nhưng bạc
mệnh…” miêu tả “Từ Hải là một người có chí lớn, hảo sảng, một đại trượng phu có
phong vận, là anh hùng tuy bị lừa nhưng vẫn chiến đấu quyết liệt….” rồi viết
thành tiểu thuyết có 20 hồi… Cứ hết một hồi thì … “ xem tiếp hồi sau sẽ rõ” (Ai
từng xem truyện Tàu thì ắt biết câu cuối hồi này!)
Kết cấu của tác phẩm “Kim Vân Kiều truyện” của Thanh Tâm Tài Nhân được miêu
tả theo tuyến tính thời gian, trình tự diễn biến của sự kiện và quá trình hành
động của nhân vật chính. Tác phẩm kèm nhiều lời bình giảng, giáo huấn đạo lý;
bên cạnh đó là việc sử dụng rất nhiều điển tích, điển cố, nhân vật Thúy Kiều
gặp cảnh ngộ vui buồn, éo le đều thường làm thơ, tứ, kệ, hoạ đàn… nhân đó mà
bày tỏ tâm trạng, tình cảm của mình khiến cho văn chương trong Kim Vân Kiều
càng đậm nét cổ.
Truyện Tàu “Kim Vân Kiều” này tôi đọc từ thời tiểu học, lâu lắm rồi, cùng
thời với Phong Thần, Đông Chu Liệt Quốc, Tây Du ký, Tam Quốc chí, Thủy Hử…và
cũng chỉ nhớ cái cốt chuyện chứ không mấy nhớ chi tiết!
Tuy vậy, mới đây nhân viết bài thơ “Kiều khúc”, tìm thấy lại cái truyện
“Kim Vân Kiều” nên đọc lại xem sao thì ngẫm ra “Kiều Việt” của cụ Nguyễn Du
đúng là “nhân từ ” hơn hẳn cái nàng “Kiều Tàu” của cụ Thanh Tâm Tài Nhân bên ấy
nhiều quá!
Cụ Nguyễn Du khi “chuyển thể” cốt truyện Kim Vân Kiều của Tàu thành “Đoạn
trường tân thanh” của người Việt theo tôi, cụ Tiên Điền muốn mượn “hồn Kiều” mà
trải nỗi lòng của cụ!
Cụ Nguyễn Du (1766-1820) sinh ra, trưởng thành sống mấy đời từ thời Lê mạt,
Trịnh Nguyễn phân tranh, Tây Sơn khởi binh rồi Triều Nguyễn khởi nghiệp đã
chứng kiến biết bao cảnh loạn lạc, nhiễu nhương, bể dâu…
Mang một tâm trạng hoài cổ từ thời còn cha ông sống trong nhung lụa đến khi
sa cơ thất thế lưu lạc cõi trần ai, Nguyễn Du thấy cảm thương thân phận của
nàng Kiều bên Tàu, vốn dĩ cũng chỉ là một ả gái điếm, ca kỹ có chút tài sắc,
lọt vào mắt xanh của tên cướp biển Từ Hải vốn là sư Minh Sơn bỏ chùa đi giang
hồ!
Gửi gắm tâm trạng của mình và nàng “Kiều Tàu”, với ngòi bút sắc sảo tài hoa
và tâm hồn Việt, cụ Nguyễn đã “thuần hóa” nàng ca kỹ mà nếu ai đã đọc “Kim Vân
Kiều truyện” của Thanh Tâm Tài Nhân miêu trả trong tiểu thuyết chương hồi này
thì rất khác biệt!
Đương nhiên ta hiểu khi chuyển thể từ văn xuôi thành thơ thì cụ Nguyễn Du
hết sức chắt lọc, cô đọng cho ngôn ngữ súc tích mà người đọc vẫn vẫn hiểu ý tứ.
Còn văn xuôi đương nhiên với ngôn ngữ đối thoại thì có vè “trần trụi” hơn là
điều không tránh khỏi!
Những tên nhân vật trong “Kim Vân Kiều truyện” hầu hết được Nguyễn Du giữ
nguyên, có điều điều chỉ biến đổi một ít…
Chẳng hạn như bọn mối lái Chung Sự, mụ Hàm thì chỉ nói chung chung là bọn
“dẫn mối”. Còn Người họ Mã vốn tên là Mã Quy thì chuyển luôn thành Mã Giám sinh
vì tên này vốn là chân giám sinh, kết thân với mụ đầu tên là Mã Tú, trước kia
cũng trong làng son phấn, nay đã hết duyên gọi là Tú bà. Nhân dịp một người gái
đĩ tòng lương được món tiền chuộc mình là ba trăm lạng, tự mình lại góp thêm
hai trăm lạng nữa để Mã Quy vào Kinh mua người nên giả vờ đóng kịch hỏi Kiều về
làm vợ và phỗng tay trên “gái trinh” mà mụ Mã Tú giao hẹn với giá năm trăm lạng
bạc mà thực chất Mã Quy “ăn chặn” bớt năm chục lạng.
Đoạn này Nguyễn Du miêu tả:
“Cò kè bớt một thêm hai,
Giờ lâu ngã giá, vâng
ngoài bốn trăm…”
(Nói thêm: Lâu nay các GV dạy Văn cứ đinh ninh dạy cho HS - Giờ lâu ngã giá
vàng ngoài bốn trăm là không đúng với nguyên bản chữ Nôm khi chuyển chữ Quốc
ngữ. Thời ấy bên Tàu người ta mua bán bằng bạc chứ không phải bằng vàng. Còn
“Vâng” tức là sau khi “cò kè…” thì Mã Giám sinh định “ăn chặn” nhiều hơn nhưng
phía nhà Thúy Kiều “đòi thách cưới” cao hơn cho xứng với con gái mình nên Mã
Giám sinh mới mới “thuận giá” bốn trăm rưỡi lạng bạc (… vâng ngoài bốn trăm) và
hắn ta kiếm lời được năm mươi lạng, còn xài được “gái trinh” đến nỗi mụ Tú bà
kêu trời – “Thôi thôi vốn liếng đi đời nhà ma!”)
Có ý kiến cho rằng chuyện “mua bán” Kiều khi qua Truyện Kiều của Nguyễn Du
đã “chuyển bạc thành vàng” thì cũng có lý để nâng giá trị “tài sắc vẹn toàn”
của Kiều vì rõ ràng giá trị của bạc làm sao bằng giá trị của vàng!
Nguyễn Du đã mấy lần nhắc đến “vàng”. Mở đầu, Mã Giám sinh hỏi; mụ mối đưa
cao giá:
“Rằng: Mua ngọc đến Lam
Kiều
Sính nghi xin dạy bao
nhiêu cho tường ?
Mối rằng: đáng giá nghìn
vàng
Gấp nhà nhờ lượng người
thương dám nài.” .
Thách giá “nghìn vàng” thì chí ít phải bán khoảng trên dưới 400 lạng vàng
chứ sao lại hạ xuống 400 lạng bạc?
Lại ở đoạn kết thúc :
“Mái ngoài họ Mã vừa
sang
Tờ hoa đã ký, cân vàng
mới trao
Trăng già độc địa làm
sao ?
Cầm dây chẳng lựa buộc
vào tự nhiên…”.
Rõ ràng câu thơ là “cân vàng” chứ chẳng phải là bạc. Chữ “vàng” chữ Nôm ở
đây rất rõ, một bên bộ “kim”, một bên chữ “hoàng”!
Thực ra giá trị nghệ thuật của truyện “Kiều Việt” cao hơn nhiều so với
“Kiều Tàu” khi chính Truyện Kiều của Nguyễn Du đã được người Nhật thời ấy mang
về nước và dịch thành tiếng Nhật trong khi chính “Kim Vân Kiều truyện” của
Thanh Tâm Tài Nhân thì kể cả những nhà học thuật của Tàu cũng chưa từng biết
đến!
Nguyễn Du đã thay đổi rất nhiều sự việc, thay đổi tính cách nhân vật, cắt
bỏ nhiều tình tiết truyện…: Tên nhân vật Kế thị, mẹ Hoạn Thư chẳng hạn đã lược
bỏ… Kế thị trong buổi Kiều xử án của Thanh Tâm Tài Nhân: vì sợ quá mà chết liền
tại chỗ, phải kéo xác ra ngoài… thì Truyện Kiều của Nguyễn Du lại không có chi
tiết này. Hoạn thư trong truyện của Thanh Tâm Tài Nhân: bị lột trần, mình chỉ
còn cái khố, cột tóc treo lên đánh đến róc cả da ra, người chẳng còn chỗ nào
lành lặn… thì trong Truyện Kiều, Kiều lại xử rất nhẹ nhàng :
“…Tha ra thì cũng may
đời
Làm ra thì cũng ra người
nhỏ nhen
Đã lòng tri quá thì nên
Truyền quân lệnh xuống
trường tiền tha ngay…”.
Trong truyện Tàu trước Thanh Tâm Tài Nhân, Kiều chỉ là Mã Kiều nhi, con hầu
tầm thường trong kỹ viện nhưng với Nguyễn Du lại là nhân vật tài sắc tuyệt vời.
Từ Hải chỉ là tên tướng cướp biển lại trở nên:
“…Râu hùm, hàm én, mày
ngài
Vai năm tấc rộng, thân
mười thước cao.
Đường đường một đấng anh
hào
Côn quyền hơn sức lược
thao gồm tài
Đội trời đạp đất ở đời
Họ Từ, tên Hải, vốn
người Việt Đông.
Giang hồ quen thói vẫy
vùng,
Gươm đàn nửa gánh, non
sông một chèo…”
Khi đọc đến đoạn trả ơn , trả thù trong “Kim Vân Kiều truyện” của Thanh Tâm
Tài Nhân, có lẽ người đọc rùng mình với những hình phạt thảm khốc dã man mà
“Kiều Tàu” đã dành cho những tên trước kia hãm hại nàng như sau:
- Bạc Hạnh: Lấy dao vằm nát thân thể, rồi cho ngựa ăn, chặt từ chân lên đầu
thành hơn trăm đoạn, thành một đống thịt như bùn.
- Bạc Bà: Đem chặt đầu bêu lên cây
- Hoạn Ưng, Hoạn Khuyển: Ra chém bêu đầu
- Hoạn Thư: Lột hết áo quần, chỉ chừa lại một cái khố, tóc buộc lên xà nhà.
Hai tên cung nữ cầm roi ngựa đồng loạt ra tay, một người đánh từ trên đánh
xuống, một người đánh từ dưới đánh lên, đánh như con chạch rơi trên đống tro,
con lươn trong vạc nước nóng, luôn luôn giãy giụa kêu trời. Toàn thân chẳng còn
miếng da nào lành lặn
- Tú Bà: Lấy dầu bách tưới đẫm vào người, rồi dựng ngược cho đầu xuống đất,
chân chổng lên trời, như ngọn đèn trời, cuốn thành một cây sáp lớn, châm lửa
- Mã Bất Tiến (Mã Quy – Mã Giám sinh) thì kẹp chân tay vào mảnh gỗ cho
thẳng căng ra, rồi rạch da và moi gân khiến cho tứ chi rời rạc. Quân sĩ tìm chỗ
chùm gân, lấy mũi dao nhọn khoét da, rồi dùng lưỡi câu móc vào đầu gân, dùng
sức lôi mạnh một cái. Mã Bất Tiến lập tức chết tươi. Quân sĩ rút thêm ba bốn
cái gân nữa làm cho thi thể Bất Tiến rời ra từng mảnh. Phu nhân bèn sai quẳng
xác ra biển cho cá ăn để đền tội bạc tình.
- Sở Khanh: Nấu một nồi tùng hương trộn lẫn với vỏ cây gai, đun thật sôi và
lấy chum nước lớn để bên, đem Sở Khanh ra, lột hết áo xiêm, một người thì múc
dầu tùng hương đun sôi tưới vào mình hắn, một người thì lấy nước lạnh dội theo.
Bên trong tuy vẫn còn sống nhưng bên ngoài không cựa quậy được. Quân sĩ chạy
đến bóc miếng vỏ gai nơi đầu ra, thì da đã bị dầu tùng ăn loét ra, chẳng cần
dùng đao kiếm, chỉ tuốt một cái thì lột hết da. Độ nửa giờ sau, thân thể Sở
Khanh chỉ còn trơ lại một cục máu đỏ lòm nhưng vẫn còn thoi thóp. Phu nhân lại
sai đem nước vôi rưới vào, tức thì toàn thân Sở Khanh nổi lên những cái bọt
lớn. Chỉ trong chốc lát đã rữa nát thành mủ máu, rớt thịt trơ xương mà chết.
Còn “Kiều Việt” của Nguyễn Du mặc dù cũng “báo ân, báo oán” nhưng qua những
câu thơ lục bát thì vẫn còn nhẹ nhàng hơn nhiều, thấm đẫm tính nhân đạo đối với
kẻ thù của một tâm hồn “thuần Việt”.
Ngày nay, có lẽ nhiều người Việt dù có đọc Kiều nhưng có lẽ ít nhận thấy
tính nhân văn của tác phẩm này, chưa thấy hết cái luật “nhân quả”, thuyết “tài
mệnh tương đố”…
“Trăm năm trong cõi
người ta
Chữ tài chữ mệnh khéo là
ghét nhau
Trải qua một cuộc bể dâu
Những điều trông thấy mà
đau đớn lòng…”
Không biết tự bao giờ, những “tâm hồn Việt” đã lai căng, chuyển hóa thành
“hồn Tàu” mà ngày nay “cái Ác” dần dần lấn áp “cái Thiện” và hiện diện khắp đất
nước này!
Không tin cứ mở báo ra mới xem cái tít báo chạy thì cứ ngỡ là ở nước Việt
nhưng đọc hết thì xảy ra bên Tàu và ngược lại!
Một buổi chiều cũng đã hết Tết, có dịp đọc lại “Kim Vân Kiều truyện” của
Thanh Tâm Tài Nhân bên Tàu và suy ngẫm những cái cốt lõi trong “Truyện Kiều”
của cụ Nguyễn Du, có một chút tản mạn về hai “nàng Kiều” của hai nước “tương
lân” và cũng để kết thúc bài này xin mượn hai câu thơ của cụ Tố Như:
“Lời quê góp nhặt dông dài
Mua vui cũng được một vài trống canh”
Hoài Nguyễn - 09/02/2022.
Xem thêm bài của Nguyễn Hải Nhu viết và đăng ngày 19/11/2023 dưới tiêu đề "Bài văn nghị luận truyện Kiều 01 điểm của học sinh..."
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét