Năm
1947, chị em tôi lang bạt từ Thái Bình lần mò về Nam Định thì gặp được ông bác
ruột, tuy không còn nhà lầu, xe hơi như hồi trước chiến tranh, nhưng sau khi
ông cùng chị hai tôi đào được một âu giầu to đầy vàng, khoảng 30 kí-lô-gam, ở
gầm lò sưởi căn nhà cũ phố Hàng Mâm, thì gia đình ông bà chẳng thiếu thốn gì
nữa.
Ông lại
tấp tểnh ra làm thầu khoán(1), cái nghề dễ làm giàu. Tuy nhiên ông không thầu
làm Lô-cốt như thời Pháp thuộc mà thầu đóng tầu thuyền trọng tải từ 15 tấn đến
60 tấn cho nhà nước để làm phương tiện vận tải đường sông.
Bố tôi
lăn lộn, sống chết với Cộng sản từ lúc sơ khai nên rất rõ về họ mà khuyên can
thế nào cũng không được, giận, đành bỏ mặc ông anh với cái mộng làm giàu vẫn
còn đang nung nấu tâm can.
Tây thì
độc ác và đểu cáng đã đành rồi nhưng không biết lật lọng, chứ chẳng như nhà
nước ta đẻ ra trong lừa đảo, nên chỉ sau vài cú hợp đồng lắt léo, thật ngoạn
mục, ông bà trắng tay, không còn một vảy vàng, ông còn bị tạm giam gần hai
tháng.
Khi
biết ông bà không còn xu dính túi, thì ông được “trả lại tự do”. Để hằng ngày
phải ra chợ Rồng bện dải rút kiếm sống. Bà bác thì tiếc của nên nhịn ăn đến
chết.
Thời kỳ
ở với ông bà bác thực ra mà nói tôi cũng cắp sách dăm bữa đến trường để được gọi
là đi học. Trường học đầu tiên tôi đến là trường Tiểu học Bến Củi, một ngôi
trường nhỏ hẻo lánh và chắc là học phí chẳng đáng là bao, nhưng khi bà vợ ông
kêu ca tổn kém thì việc học hành của tôi cũng bị đình lại. Chả biết bây giờ ngôi
trường này có còn không? Nhưng cũng như cái duyên số nó đưa đẩy, con đường tôi
đi học từ phố Hàng Sắt Dưới đến trường Bến Củi phải đi qua phố.... mà cửa hàng
vải rất to của bà Quyên (thường gọi là bà Bảo, tên chồng cũ của bà), một người đàn bà không có con, bạn thân của bố tôi.
Cũng
chẳng còn nhớ là bà Quyên đã nhận ra chị hai tôi đi bán chè đỗ đen rong qua các
phố, hay chị tôi đã nhận ra bà trước. Sau này chị tôi kể lại thì chị tôi nhận
ra bà Quyên từ rất lâu rồi, nhưng nghĩ đến thân phận chị em nghèo khó, hẩm hiu,
nên không dám sấn sổ nhận người quen cũ.
Từ đấy
chị em tôi thường qua lại chỗ bà và bà cũng thường bù trì chút ít. Tuy nhiên
chị hai tôi là người tự trọng, nên cũng thường hay lánh mặt. Chả biết có phải
là di truyền không nhưng tôi cũng giống hệt chị hai tôi về tính cách, lảng
tránh mọi sự niềm nở, ân cần quá. Nhiều hôm bà Quyên phải rình mãi mới “tóm”
được tôi khi đi học qua đấy. Chả có việc gì to tát đâu, chỉ là hôm gói xôi, hôm
thì cái ngô luộc. Đặc biệt là lần nào ngồi cạnh, bà cũng thường vuốt ve, âu yếm
tôi như một bà mẹ lâu ngày được gặp lại con. Bà đã kể nhiều chuyện về bố mẹ
tôi, nhiều nhất vẫn là về bố tôi.
Tôi còn
nhớ những lần ít ỏi gặp gỡ nhau, ông bà đều nói tiếng Pháp, đến giờ tôi còn giữ
được những lá thư trao đổi của họ cũng dùng toàn tiếng Pháp.
Mãi sau
này tôi mới biết là hai ông bà có tình ý với nhau từ rất lâu rồi, nhưng vì họ
là những người có văn hóa, nên họ không cho phép mình đi quá giới hạn bao giờ.
Bố tôi
xuất thân trong một gia đình thợ thuyền, ông nội tôi là thợ mộc nổi tiếng ở Phủ
Lý Hà Nam, nhưng do không may bị bại liệt, nên năm mười ba tuổi bố tôi đã phải
bỏ học đi làm. Chả hiểu ông tự học kiểu gì mà nói tiếng Pháp còn chuẩn hơn cả
tôi sau khi đã tốt nghiệp Đip-lôm(2). Còn bà Quyên, làm nhà thầu Anh-tăng-đăng(3)
cho Pháp về quân trang, quân dụng nên giỏi tiếng Pháp là tất nhiên rồi.
Bố tôi lúc
còn trẻ cũng là một “tài tử” có hạng. Tôi nghe chính mẹ kể về ông:
- Bố mày
chơi đàn bầu hay lắm, các nghệ sỹ nổi tiếng biểu diễn trên đài bây giờ không
ai bằng được. Ông ngoại chỉ vì mê tiếng đàn mà mò mẫm đi bộ bao đường đất từ
Phù Long Nam Định đến Lý Nhân Hà Nam để nghe và sau này kết bằng được làm con
rể! Có những lần bố mày chơi đàn, người nghe nước mắt đầm đìa, nức nở, vẫn
không chịu rời đi. Sau này lúc đi theo cách mạng phải bỏ nhà, bỏ cửa, trốn
chui, trốn lủi vẫn treo cây đàn trang trọng trên vách.
Mẹ còn
kể, khi bố tôi đang ở trong lính Khố Xanh hồi 1932 thì bị Pháp điều sang Thượng Hải một thời gian. Hết hạn về nước ít lâu thì có một cô gái trẻ, xinh đẹp
người Tàu sang đây, nói là đi tìm chồng. Gặp mẹ tôi lúc đó đang mang thai anh
cả, hai người đàn bà cùng kể lể, cùng khóc lóc một hồi, mãi mấy hôm cô ta mới
bỏ về.
Sau này
tôi còn được nghe bố kể:
- Tao gặp
cô Hạ, con gái duy nhất một nhà buôn lớn ở Thượng Hải, chả hiểu sao cô ấy lại yêu
tao đến thế. Tao nói với cô ấy là tao đã có vợ rồi, vợ lại đang có chửa mà cô
ta vẫn không tin, cố sang Việt Nam tìm bằng được, rồi trở về nhà thất vọng uống
thuốc độc tự tử. Thật tội nghiệp!
Đến
cuối năm 1954, trước khi tiếp quản Hải Phòng(4), bố tôi được nhà cầm quyền Pháp
trả lại tự do từ Căng(5) Máy Chai, cũng là lúc bà Quyên chuẩn bị di cư vào Nam
do sợ bị liên lụy vì đã cộng tác với người Pháp trước kia.
Trước khi
đi, bà có ngỏ lời xin tôi làm con nuôi để đỡ cô quạnh.
Nhưng
bố tôi nói:
- Tôi có hai
thằng con trai, thằng lớn đi Bộ đội từ năm 1945, bây giờ còn bặt tin chưa biết
sống chết thế nào. Thằng út lại theo cô vào Nam rồi sang Pháp thì chả biết sau
này cha con tôi có còn gặp lại nhau nữa không?!
Tôi cứ nghĩ
lẩn thẩn, nếu hồi ấy theo bà Quyên sang Pháp thì chắc giờ tôi nói tiếng Pháp thạo
lắm rồi. Ăn, chỉ có đồ hộp với bánh mỳ, lại chỉ biết cầm dao, cầm dĩa, chứ làm
sao còn cầm được đũa để “thưởng thức” rau muống với tương, cà như bây giờ!
Chẳng
biết việc bố tôi không cho tôi đi theo bà Quyên là may hay không may nữa?
Một lần
tôi hỏi bố:
- Bà Quyên
giỏi giang, lại tâm đắc với bố thế, hai người rất yêu quí nhau, sao bố không
lấy bà Quyên?
Bố tôi
nói không cần suy nghĩ:
- Tao mà lấy bà Quyên, thì mẹ mày mất chồng!
***
Thì ra ông cụ nghĩ thấu đáo hơn tôi nhiều lắm!
Không phải ông không tài hoa, không phải ông chưa từng chơi bời và
cũng không phải ông không có những người đàn bà khác ngoài vợ yêu say đắm,
nhưng ông vẫn coi gia đình mình là trụ cột.
Ông không nỡ phụ người vợ quê mùa, lam lũ đã gắn bó nhau từ thuở
hàn vi.
Mẹ tôi là một phụ nữ nông thôn, không được học hành, lấy
chồng chỉ biết trông cậy vào chồng, nên bà thật là may mắn khi gặp được một người bạn đời như bố.
Chúng tôi cũng thật có phúc mới có một gia đình như vây!
Hà
Nội, 2018.
(1)
Thầu khoán: entrepreneur, thầu xây cất: entrepreneur de
construction (tiếng Pháp).
(2)
Đíp-lôm: Diplôme (tiếng Pháp) tốt nghiệp Trung học, tương đương
hết cấp II bây giờ.
(3)
Anh-tăng-đăng: Intendant: (tiếng Pháp) nhà quản lý, nhà thầu với
Pháp
(4)
Tiếp quản thành phố Hải Phòng: tháng 05 năm 1955
(5)
Căng: Camp (tiếng Pháp) trại tập trung, nhà tù.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét