tháng 5 12, 2020
Lời hứa không giữ được
(Kính
tặng hương hồn anh trai tôi)
Nghỉ hưu đã lâu, tôi thành một tỷ phú thời gian, lúc rỗi
rãi chẳng biết làm gì cho hết ngày nên thường giở mớ ký ức đã xa xôi ra gậm nhấm.
Hầu hết những chuyện trải qua trong đời, giờ đây không
thể sắp xếp lại cho trật tự được nữa, quên nhiều hơn nhớ. Nhưng có vài chuyện muốn
quên, thì lại không làm sao mà quên đi được! Có lẽ là do “cái bản tính nó dính
vào người” như mấy ông bạn tôi đùa thường nói vậy.
Mấy năm trước vào Hà Đông chơi thăm ông bạn. Khi về, tôi hỏi vu vơ:
- Ở Hà Đông lâu, ông
có biết một bà bộ đội già trước làm Y tá quân đội nào không?
- Ông hỏi thế thì đến
bố thổ công cũng chịu!
- Hỏi bâng quơ, may
ra thì được ấy mà!
- Bà ta là thế nào
với ông?
- Chả là ông anh cả tôi đi bộ đội từ năm 45, hy sinh trong
chiến dịch Điện Biên Phủ năm 54. Năm ấy anh mới có 22 tuổi. Nghe người ta
nói lại không biết thực hư thế nào là khi nằm xuống anh được bà Y tá ấy vuốt
mắt cho! Chỉ mang máng nghe là bà ấy ở vùng Hà Đông này. Nếu còn, thì năm nay
cũng phải trên dưới tám mươi rồi!
- Thế thì
ông phải tìm đến Thành đội mà hỏi, may ra mới biết được!
- Ừ nhỉ,
thế mà tôi không nghĩ ra!
- Để tôi
bảo đứa con dâu thứ hai đang làm ở Thành đội nó hỏi cho!
- Vâng, thế
thì quý hóa quá!
Mấy hôm
sau tôi nhận được tin nhắn qua điện thoại của cô con dâu ông bạn. Có một bà bộ
đội tên là Hòa, sinh năm 1937, đang ở Ba La, quá thị xã Hà Đông, trước có tham
gia bộ đội chống Pháp ở Trung Đoàn 36, Đại Đoàn 308.
Tôi mừng quá, vì đó chính là phiên hiệu đơn vị của ông anh tôi.
Tôi mừng quá, vì đó chính là phiên hiệu đơn vị của ông anh tôi.
***
Theo
chỉ dẫn, tôi tìm đến nhà bà Hòa trong một ngõ nhỏ cuối phố Ba La vào một buổi
xế chiều. Ra ngõ đón là một bà già nhỏ bé, hiền lành.
Bước
vào căn nhà cấp bốn cũ kỹ chưa đến hai chục mét vuông, vẻ trống vắng. Ngoài cái
giường gỗ tạp, một cái bàn nhỏ trên để bộ ấm chén rẻ tiền, cái Ti-vi nhỏ đít
lồi cũ kỹ. Phía sau nhà là căn bếp nhỏ hãy còn dùng than tổ ong. Ngay giữa gian
nhà có đóng trên cao sát mái là cái xích-đông dùng làm ban thờ. Ảnh thờ vẽ một
anh bộ đội còn rất trẻ, đeo quân hàm Thượng sĩ, phảng phất có những nét quen
quen, chắc do một họa sĩ ngoài thị xã vẽ qua lời kể lại của bà chủ nhà.
Bà Hòa chậm
chạp rót nước mời, chăm chú nhìn tôi rồi hỏi:
- Ông có
phải là ông Khánh không ạ?
- Vâng
tôi là Khánh, em ruột anh Phúc.
- Thế là gần
năm mươi năm, tôi vẫn nhớ được tên ông qua lời kể của anh ấy.
- Thưa
bà, bà được mấy anh chị rồi ạ? Tôi gợi ý vì thấy vẻ quạnh quẽ của ngôi nhà.
- Cám ơn
ông hỏi thăm, tôi có hai con, đứa đầu là gái đã gần năm mươi, bây giờ cháu cùng
gia đình đang ở Mỹ, thằng út mới lấy vợ, ở với bố cháu ngoài Hà Nội.
- Sao bà
không ra ở với ông và cậu nhà cho vui ạ?
- Tôi vẫn
đinh ninh là có ngày hôm nay, ngày mà người nhà anh Phúc đến tìm, nên tôi cứ
nấn ná chưa đi.
- Cám ơn
bà đã có ý nán lại chờ chúng tôi tìm đến!
- Tôi
cũng mừng là đã đợi được! Chắc ông muốn tìm tôi là để hỏi lại những kỷ niệm của
anh Phúc trước lúc hy sinh phải không?
- Vâng,
thật may mắn là hôm nay lại được gặp bà.
- Không
có gì! Các cụ xưa chẳng đã nói: “Có duyên ắt sẽ gặp mặt mà!”
- Thưa bà,
dù thời gian đã trôi đi gần nửa thế kỷ mà vẫn còn người tìm đến để hỏi lại
những kỷ niệm đã qua. Hy vọng không làm phiền bà nhiều!
- Những
ngày lửa đạn ác liệt ấy, tôi là người luôn bên cạnh anh Phúc. Anh là người có
văn hóa cao nhất Trung Đoàn, đã có bằng Thành trung hồi Pháp thuộc, được Trung
Đoàn Bộ giữ lại làm trợ lý cho chỉ huy, nhưng anh vẫn muốn xin ra trực tiếp
chiến đấu.
Trong
đời thường anh là người hiền lành và tình cảm, được anh em trong đơn vị vô cùng
quý mến, nhưng trong chiến đấu, anh lại là một Tiểu đội phó rất dũng cảm.
Anh là
người được Chỉ huy giao trực tiếp chỉ huy trận truy kích tàn quân Pháp rút chạy
từ Điện Biên sang Thượng Lào, tháng Giêng, năm 1954.
Do lực
lượng ta quá mỏng nên trong trận đánh không cân sức ấy, khi vượt qua một thung
núi, anh bị một viên đạn của địch bắn trúng ngực, máu phun ra xối xả. Lúc bấy
giờ y tế ta còn thô sơ lắm, nghèo nàn lắm, tôi là Y tá lâu năm cũng chỉ biết
băng bó cầm máu rồi chờ tiếp viện của Trung Đoàn lên hỗ trợ chuyển về tuyến sau.
Trận
đánh vẫn không dừng lại, Trung đoàn cũng không lên kịp để hỗ trợ. Vết thương
của anh mất máu nhiều, tuy rất mệt anh vẫn tỉnh táo đến phút chót. Lúc biết
mình không qua khỏi được, trước lúc ra đi anh nắm tay tôi dặn dò:
- Sau này
nếu còn sống, em hãy tìm gặp người nhà anh để đưa cho họ lá thư cuối cùng này. Rồi
đắn đo mãi anh mới nói lời nhắn nhủ: - “Hãy cố quên anh đi, mà sống cho thanh
thản”. Tôi gật đầu trong nước mắt và hứa là sẽ thực hiện lời hứa đó. Anh vẫn có
vẻ chưa thật yên lòng, cuối cùng tôi phải thề. Anh đã mỉm cười lặng lẽ ra đi
trong vòng tay tôi.
Tiếng
thét xé lòng của tôi cùng với tiếng khóc nghẹn ngào của đồng đội, lẫn vào tiếng
mưa rơi xối xả như trút nước của rừng già.
Đã bao
nhiêu năm qua đi, đến nay khi đã già rồi tôi vẫn không thực hiện được lời hứa ấy.
Ông không biết đâu trong chiến tranh, lời thề với người thân trước lúc hy sinh
là thiêng liêng lắm. Thế mà tôi không thực hiện được. Tôi đã không làm sao quên
được anh!
Bà Hòa
giở chiếc khăn tay cũ kĩ ra lau hai hàng nước mắt chảy dòng dòng.
Tôi
cuống quýt nói:
- Thực
không phải, xin bà thông cảm, vì người thân, tôi đến tìm gặp, làm bà lại phải
ôn lại những kỷ niệm đau xót đã qua.
- Ông nói
thế là xúc phạm đến vong linh của người đã mất đấy!
Lúc lâu
sau, tôi ngập ngừng mãi mới dám hỏi:
- Tôi xin
phép gọi bà bằng chị, xưng em không biết có được không ạ?
- Tôi rất
sung sướng khi được ông xưng hô như thế. Đã bao năm qua tôi đã mong mỏi gặp
được người nhà anh ấy để trao lại bức thư cuối cùng này. Thế mà hôm nay thật may
mắn tôi đã gặp được ông và đã hoàn thành nhiệm vụ thiêng liêng ấy!
***
Ít lâu
sau bà Hòa đã rời căn nhà trong Hà Đông ra sum họp cùng chồng và gia đình cậu
con trai ở phố Đường Thành gần chợ Hàng Da. Tôi có qua lại thăm ông bà vài lần.
Thì ra ông chồng bà Hòa cũng cùng đơn vị với anh tôi, là liên lạc viên của Trung
đoàn, quê cũng ở Lý Nhân, Hà Nam nên họ thân nhau lắm!
Tôi
cũng kể cho ông bà nghe về việc tìm mộ của anh Phúc(1) cách đây 20 năm từ cái
đơn gửi Sở Thương binh Xã Hội thành phố Điện Biên ngày 21/04/2004. Cái thư phúc
đáp của Sở Thương binh Xã Hội thành phố Điện Biên bằng Công văn số: 258 / CV-LĐTBXH ngày 26/05/2004 là:
Qua nội dung đơn đề nghị Sở Lao
động - TBXH tỉnh Điện Biên trả lời ông như sau:
Sở Lao động - TBXH tỉnh Điện Biên
đã tra cứu sổ vàng ghi tên các liệt sỹ và danh sách các liệt sỹ hy sinh trong
Chiến dịch Điện Biên Phủ và sổ ghi tên các liệt sỹ là quân tình nguyện Việt Nam
đi làm nhiệm vụ Quốc tế cao cả đã hy sinh bên nước bạn Lào, nay đã được quy tập
về nước và an táng tại nghĩa trang Tông Khao(2) tỉnh Điên Biên. Song hiện nay
liệt sỹ Trần Hạnh Phúc chưa có tên trong sổ vàng cũng như trong danh sách các
liệt sỹ do Sở quản lý.
Vậy, đề nghị ông viết đơn và cung
cấp các thông tin về liệt sỹ Trần Hạnh Phúc kèm theo bản phô-tô giấy báo tử
hoặc bằng Tổ quốc ghi công gửi Cục chính sách - Tổng Cục chính trị - Bộ Quốc
phòng để được trả lời.
Kính chúc ông và gia đình mạnh
khỏe, hạnh phúc.
***
Sau đó ngày 01 tháng 06 năm 2004, tôi cũng
đã viết đơn lên Cục chính sách - Tổng
cục Chính trị - Bộ Quốc phòng, kèm theo một tập hồ sơ dầy, nào là Giấy
Báo tử, Bằng Tổ Quốc Ghi công, Thư thăm hỏi và Úy lạo của Trung Đoàn, Đại Đoàn,…
không thiếu thứ gì cả!
Nhưng chờ mãi tôi vẫn không được trả lời, tôi lại
viết tiếp, nhưng vẫn không được trả lời. Mấy năm sau tôi chán nản đành thôi không
viết nữa.
Ngẫm nghĩ càng thấm thía câu của một Triết gia nào
đó nói:
“Người sống trong túp lều tranh suy nghĩ khác với
người sống trong cung điện!”
Bà Hòa chăm chú nghe câu chuyện tìm mộ anh trai của tôi, ngồi lặng đi một lúc
sau mới chậm rãi nói:
- Trong chiến đấu, khi ngã xuống liệt sỹ ta chỉ được chôn
cất sơ sài lắm, số hy sinh lại đông, không kịp làm mộ chí, không có vật gì để
đánh dấu cả, chỉ dăm ngày sau là không còn nhớ ai đã được chôn ở chỗ nào. Trận
đánh cứ ào ào cuốn đi, người vừa chôn đồng đội mình cũng không có dịp quay lại chỗ
cũ, hoặc ngay sau đó người ấy cũng hy sinh, có khi sau chiến tranh đã chết già
ở quê rồi.
Đằng này sau một thời gian dài hàng mấy chục năm, Tổ
chức mới có điều kiện quy tập mộ liệt sĩ từ Thượng Lào về nước thì đúng là
không ai còn có thể xác định chính xác mộ của các liệt sỹ nữa. Vì thế chúng ta
không thể tìm thấy cụ thể mộ anh Phúc là điều dễ hiểu và cũng là điều phải chấp
nhận thôi.
Bây giờ theo Sở Lao Động - TBXH tỉnh Điện Biên,
chúng ta đã biết hài cốt của anh Phúc và các đồng đội anh đã
được đưa về an táng tại nghĩa trang liệt sỹ Tông Khao thì cũng đã là may mắn
lắm rồi!
Tôi nghĩ rằng anh vẫn tồn tại trong lòng chúng ta mới
là điều đáng quý nhất!
Mọi người cuối cùng cũng đều đồng ý với ý kiến của
bà Hòa.
Mà muốn khác đi cũng đâu có dễ gì làm được!
Hà Nội, 2020.
(1):
Kèm theo sau đây là những lá đơn trình bày của Tác giả.
(2):
Nghĩa trang liệt sĩ Tông Khao, tỉnh Điên Biên được xây dựng năm 1982, là nơi an nghỉ của hơn 2.700 liệt sĩ là quân
tình nguyện Việt Nam chiến đấu trên đất bạn Lào.
Cộng hòa Xã
hội Chủ nghĩa Việt Nam
Độc lập - Tự do
- Hạnh Phúc
-----***-----
Hà
Nội, ngày 21 tháng 04 năm 2004.
Kính gửi: Sở Thương Binh Xã Hội
thành phố Điện Biên.
Tôi là Trần Quốc Khánh, sinh
1-1940, chứng minh thư số : 010035144 cấp tại Hà Nội ngày 6/12/2001, cán bộ kỹ
thuật về hưu, hiện ngụ tại số 4-160/31/3 đường Hoàng Mai, tổ 61, phường Tương
Mai, quận Hoàng Mai, Hà Nội, làm đơn này gửi lên Sở Thương Binh Xã Hội thành
phố Điện Biên, trước hết xin gửi tới Quý Sở lời chào kính trọng, sau có một
nguyện vọng mong muốn được trình bày cùng các đồng chí:
Tôi là em ruột còn lại duy nhất,
người vinh dự được hương khói cho liệt sỹ chống Pháp: Trần Hạnh Phúc, nhập ngũ
01/04/1947, cấp bậc Tiểu đội phó thuộc Ban Quân Khí E36, sư đoàn 308 đã hy sinh
ngày 20/01/1954 tại Điện Biên Phủ, thi hài mai táng tại bản Hát Kham, Thượng
Lào, (theo giấy báo tử trận số 16/B4 của Phòng Tham Mưu Sư Đoàn 308 do ông Đào
ngọc Hạnh, trưởng ban Quân lực F 308, ký ngày 01/10/1963, và giấy báo tử trận
số 59 của Trung Đoàn 36, do ông Nguyễn Xuân Luật, Trưởng tiểu ban Quân Lực E36
- F 308 ký ngày 26/11/1963).
Do chiến tranh liên miên, do đi
lại khó khăn và do không biết đích xác thi hài liệt sỹ Trần Hạnh Phúc được mai
táng tại đâu, nên gia đình chúng tôi chưa có cơ hội tới thăm, thắp cho người
thân nén hương tưởng niệm.
Vừa qua con dâu tôi làm việc tại
Đài Truyền hình TƯ, nhân dịp lên công tác tại Điện Biên Phủ, có trình bày
nguyện vọng của gia đình với các đồng chí, thì được biết thi hài các liệt sỹ
của ta đều đã được chuyển về an táng tại Điện Biên Phủ, Việt Nam.
Tôi làm đơn này trình bày cùng
Quý Sở, rất mong được biết thi hài liệt sỹ Trần Hạnh Phúc được an táng tại
nghĩa trang nào, thuộc bản nào của Điện Biên Phủ. Muốn lên thắp nén hương tưởng
niệm người thân, thì liên hệ với ai, cụ thể thế nào là tiện lợi nhất vì chúng
tôi đã về hưu, đã ở tuổi 66 rồi, sức khỏe và tiền bạc đã rất hạn chế.
Rất mong được sự giúp đỡ và chỉ
dẫn của Quý Sở.
Cuối cùng xin gửi tới các đồng
chí lời chào trân trọng và biết ơn.
Địa
chỉ liên hệ Người làm
đơn
Trần
Quốc Khánh - nhà số 4
ngõ
160/31/3 đường Hoàng Mai
Quận
Hoàng Mai - Hà Nội.
Tel:
04.6621232
Trần
Quốc Khánh.
UBND
LÂM THỜI TỈNH ĐIỆN BIÊN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
SỞ LAO ĐỘNG - TBXH
Độc lập - Tự do - Hạnh Phúc
----------- -----***-----
Số: 258 / CV-LĐTBXH
V/v trả lời đơn thư tìm mộ liệt sỹ
Điện Biên, ngày 26
tháng 5 năm 2004.
Kính
gửi ông: Trần Quốc Khánh
Số 4-160/31/3 đường Hoàng Mai, tổ
61
P. Tương Mai, quận Hoàng Mai, Hà
Nội
Ngày
28 tháng 4 năm 2004 Sở Lao động - TBXH tỉnh Điện Biên nhận được đơn thư của ông
hỏi về phần mộ chí củ liệt sỹ Trần Hạnh Phúc:
- Quê quán: Khu Thượng Lý, Hải Phòng
- Nhập ngũ: 01/4/1947
- Cấp bậc: Tiểu đội phó thuộc Ban quan
khí E36, Sư đoàn 308
- Hy sinh: ngày 20/01/1954, tại Bản
Hát Kham, Nậm U, Thượng Lào
Qua
nội dung đơn đề nghị Sở Lao động - TBXH tỉnh Điện Biên trả lời ông như sau:
Sở
Lao động - TBXH tỉnh Điện Biên đã tra cứu sổ vàng ghi tên các liệt sỹ và danh
sách các liệt sỹ hy sinh trong Chiến dịch Điện Biên Phủ và sổ ghi tên các liệt
sỹ là quân tình nguyện Việt Nam đi làm nhiệm vụ Quốc tế cao cả đã hy sinh bên
nước bạn Lào, nay đã được quy tập về nước và an táng tại nghĩa trang Tông Khao
tỉnh Điên Biên. Song hiện nay liệt sỹ Trần Hạnh Phúc chưa có tên trong sổ vàng
cũng như trong danh sách các liệt sỹ do Sở quản lý.
Vậy,
đề nghị ông viết đơn và cung cấp các thông tin về liệt sỹ Trần Hạnh Phúc kèm
theo bản phôtô giấy báo tử hoặc bằng Tổ quốc ghi công gửi Cục chính sách - Tổng
Cục chính trị - Bộ Quốc phòng để được trả lời.
Kính
chúc ông và gia đinh mạnh khỏe, hạnh phúc.
Nơi nhận: Giám Đốc Sở Lao
Động - TBXH tỉnh Điện Biên
- Như kính gửi. K.T.
Giám đốc
- Thanh tra Sở. Phó Giám
đốc
- Lưu VP- CS.
Trần Thanh Nghị
(ký tên đóng dấu)
Nguyễn Thanh Sơn – Giam đốc sở LĐ-TB&XH Tỉnh Điện Biên
LH: 0965001222 – Tông Hao NTLS – 165 Xã Đàn Hà Nôi
Cộng
hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam
Độc lập - Tự do
- Hạnh Phúc
-----***-----
Hà Nội, ngày 01 tháng 06 năm 2004.
Kính gửi: Cục chính sách - Tổng cục Chính trị
Bộ Quốc phòng
Tôi là Trần Quốc Khánh, sinh
1-1940, chứng minh thư số : 010035144 cấp tại Hà Nội ngày 6/12/2001, cán bộ kỹ
thuật về hưu, hiện ngụ tại số 4-160/31/3 đường Hoàng Mai, tổ 61, phường Tương
Mai, quận Hoàng Mai, Hà Nội, làm đơn này gửi lên:
Cục chính sách - Tổng cục Chính
trị - Bộ Quốc phòng, trước hết xin gửi tới Quý Cục lời chào kính trọng, sau có
một nguyện vọng mong muốn được trình bày cùng các đồng chí:
Tôi là em ruột còn lại duy nhất,
người vinh dự được hương khói cho liệt sỹ chống Pháp: Trần Hạnh Phúc, nhập ngũ
01/04/1947, cấp bậc tiểu đội phó thuộc Ban Quân Khí E36, sư đoàn 308 đã hy sinh
ngày 20/01/1954 tại Điện Biên Phủ, thi hài mai táng tại bản Hát Kham, Thượng
Lào, (theo giấy báo tử trận số 16/B4 của Phòng Tham Mưu Sư Đoàn 308 do ông Đào
ngọc Hạnh, trưởng ban Quân lực F 308, ký ngày 01/10/1963, và giấy báo tử trận
số 59 của Trung Đoàn 36, do ông Nguyễn Xuân Luật, Trưởng tiểu ban Quân Lực E36
- F 308 ký ngày 26/11/1963).
Do chiến tranh liên miên, đi lại
khó khăn và do không biết đích xác thi hài liệt sỹ Trần Hạnh Phúc được mai táng
tại đâu, nên gia đình chúng tôi chưa có cơ hội tới thăm, thắp cho người thân
nén hương tưởng niệm.
Ngày
21/04/2004, tôi đã làm đơn trình bày cùng Sở Lao động - TBXH tỉnh Điện Biên.
Ngày 31/05/2004, tôi nhận được thư trả lời của Sở Lao động - TBXH tỉnh Điện
Biên, (số: 258/CV-LĐTBXH) nội dung cho
biết là:
Sở
Lao động - TBXH tỉnh Điện Biên đã tra cứu sổ vàng ghi tên các liệt sỹ và danh
sách các liệt sỹ hy sinh trong Chiến dịch Điện Biên Phủ và sổ ghi tên các liệt
sỹ là quân tình nguyện Việt Nam đi làm nhiệm vụ Quốc tế cao cả đã hy sinh bên
nước bạn Lào, nay đã được quy tập về nước và an táng tại nghĩa trang Tông Khao
tỉnh Điên Biên. Song hiện nay liệt sỹ Trần Hạnh Phúc chưa có tên trong sổ vàng
cũng như trong danh sách các liệt sỹ do Sở quản lý.
Tôi
viết đơn này gửi lên Cục chính sách - Tổng cục Chính trị - Bộ Quốc phòng, mong
các đồng chí lưu tâm tìm kiếm giúp thi hài liệt sỹ Trần Hạnh Phúc được an táng
tại nghĩa trang nào, thuộc bản nào của Điện Biên Phủ. Muốn lên thắp nén hương
tưởng niệm người thân, thì liên hệ với ai, cụ thể thế nào là tiện lợi nhất vì
chúng tôi đã về hưu, ở vào tuổi 66 rồi, sức khỏe và tiền bạc cũng rất hạn chế.
Rất mong được sự giúp đỡ và chỉ
dẫn của Quý Cục.
Cuối cùng xin gửi tới các đồng
chí lời chào trân trọng và biết ơn.
Địa
chỉ liên hệ
Người làm đơn
Trần
Quốc Khánh - nhà số 4
ngõ
160/31/3 đường Hoàng Mai
Quận
Hoàng Mai - Hà Nội.
Tel: 04.6621232 Trần Quốc Khánh.
tháng 4 02, 2020
Quê nội - Hà Nam
KHÔNG QUÊ
Ta về Phù Long(1) thăm quê ngoại,
Xuân cũng về theo, nắng dát vàng.
Mùa lụt, bơi thuyền thăm quê nội,
Nước ngập trắng đồng, phủ Nam Sang(2).
Ai chẳng có quê tự tuổi thơ,
Cái cò, cái vạc lượn trong mơ.
Giá như ta vẫn còn quê nhỉ?
Chẳng phải nhớ mong đến tận giờ.
Hà Nội, 2006.
(1) Phù Long: Nam Định
(2) Nam Sang: Hà Nam
Cái giá của lương thiện
Nghe tin ông bạn thân ốm, tôi vội vã đến thăm.
Nhà ông trong tận một ngõ sâu, mất năm chục nghìn tiền xe
ôm mới tới.
Mấy hôm nay ông khật khừ, ăn kém, ngủ kém, mắt thâm quầng.
Đã có tuổi, nhưng do cơ địa khỏe mạnh nên ông vẫn minh mẫn lắm.
Chơi với nhau đã lâu, tôi biết rõ tính cách hơi ngang
ngang khác người của ông ấy. Ông không coi trọng vật chất. Sinh hoạt cũng giản dị, xuềnh xoàng.
Bà vợ ông nói: “Ông ấy nuôi dễ lắm! Chỉ miếng cháy, vài
hột lạc rang mặn cũng qua bữa. Cứ nhìn ông ấy ăn, người khảnh mấy cũng tưởng là
món ăn ngon lành lắm”!
Uống với nhau gần hết tuần nước mới biết thì ra ông đang
giận đời, giận mình!
Hỏi ra thì cũng chẳng có gì ghê gớm cả, song ở đời đôi
khi chỉ vì những cái vặt vãnh lại làm cho người ta đổ gục xuống như một cây
chuối bị phạt gốc.
Mãi một lúc lâu sau, ông mới giãi bày:
- Tôi đang phải trả
giá cho những ấu trĩ trong cuộc đời mình.
- Ông rỗi rãi, chả có
việc gì làm ngoài việc ngồi viết lách, lại là người cả nghĩ, chứ có chuyện gì
đâu mà buồn đến phát ốm lên vậy?
- Ông ạ, cứ tưởng
mình cứ sống thật với mình, thật với đời, dám nói ra những điều tâm huyết,
không lươn lẹo, không giả dối, thì lòng mình sẽ được thanh thản!
- Thì ông chẳng đã
sống như vậy đấy thôi?
- Ông ạ, đến lúc đã
già rồi mới biết mình còn ấu trĩ lắm, còn nông cạn lắm.
- Lúc còn trẻ ông có
chịu đầu hàng trước khó khăn nào đâu? Cái gì cho là đúng, ông dám theo đuổi đến
cùng, thế là đã hơn đứt bọn tôi rồi, còn gì!
- Hơn các ông cái nỗi
gì?
- Bọn tôi cũng không mụ
mẫm đến mức không biết cái gì đúng, cái gì sai! Nhưng dù biết việc đó đúng trăm
phần trăm đi nữa, cũng phải liếc nhìn xung quanh xem có nhiều người gật gù
không đã? Nếu chỉ có ít người đồng tình thôi, thì tốt nhất là ngồi im không
động đậy, coi như không thấy. Điều gì có nhiều người công nhận, thì cũng chỉ
dám gật đầu nhè nhẹ thôi!
Lặng yên trong bóng tối là biện pháp an toàn nhất, đó là
chỗ ẩn nấp tốt nhất của hầu hết những người được cho là khôn ngoan!
Đằng này, ông không thế, cái gì đúng ông dám ngang nhiên hưởng
ứng, cái gì sai ông dám vạch trần chúng ra giữa thanh thiên bạch nhật, mặc dù
ông biết có nhiều ánh mắt cau có, cả những lời đe dọa và sau đó là các kiểu trù
úm bẩn thỉu, kiểu phân công đểu cáng của bọn lãnh đạo cơ quan lúc bấy giờ.
Chỗ nào khó khăn nguy hiểm là họ đẩy ông vào. Thí dụ như
tháng Hai, năm 1979, ta “huých nhau” với
Tàu ở biên giới phía Bắc, cầu Làng Giàng trên Lào Cai bị giật sập, thì ngay sau
đó, tháng Mười chúng bắt mình ông khăn gói lên đấy thị sát để làm cầu. Ông phải
đi. Mà không đi thế nào được? Ông là kỹ sư cầu, cử ông lên đó làm cầu thì có gì
là không đúng chứ? Nhưng vì sao lại không phải là ai khác?
Lần ấy đi từ Phố Lu đến Lào Cai để thị sát, mấy lần ông
bị bắn tỉa mà không chết. Rồi cả đến những lần khác khi ông vác ba-lô lên vai
đi công tác là vợ con tái mặt lo âu, đồng nghiệp thì nín hơi không dám thở. Chỉ
cần một sơ sót nhỏ lọt vào mắt họ là cái ách kia sẽ quàng vào vai mình lập tức!
Vào những năm 1964, khi Mỹ đánh phá hạn chế, số bom đạn mấy
tháng chúng ném xuống Khu Tư nhiều gấp hơn mười lần số bom đạn chúng ném xuống toàn
Miền Bắc trong mười năm. Ông cũng “được chọn đi công tác” Khu Tư. Nằm trong đó hơn
sáu năm, suýt chết không biết bao nhiêu lần!
Thời kỳ chiến tranh, người nào “được cử đi công tác” vào
vùng có chiến sự là ngang với bị kết án tử hình.
- Thế ông quên à, lần
ấy cũng có ông ở đấy, đồng chí Phạm Kiên, Viện phó mới học xong lớp Bốn trường làng, phụ trách
nhân sự Viện khi đưa cho tôi tờ “Công lệnh”(1) cử đi công tác Khu Tư đã nói:
- “Cử một mình đồng
chí đi công tác, chúng tôi tin tưởng hơn cử năm đồng chí khác!”. Trên đã tin
tưởng mình, thì mình cũng “phải cố gắng” để xứng đáng chứ!
- Đành rằng chuyên
môn của ông tốt hơn nhiều đồng nghiệp khác, lại chịu đi công tác bất cứ đâu,
nhưng sao khi xét nâng lương, họ lại quên ông luôn mấy kỳ liền? Người khác chỉ ba
đến bốn năm, ông có kỳ trên mười năm mới được xét đến lương?
- Tại đồng chí phụ
trách Nhân sự với đồng chí trưởng phòng Tiền lương có quen biết nhau đâu! Làm
gì mà chả có nhầm
nhọt?!
- Nói như cứt! Thế mà
vẫn còn đùa được!
- Ông à, lại nói tới
việc dám đương đầu với hiểm nguy, tôi cũng sợ chết lắm chứ, nhưng ở vào cái thế
không đi, không được! Cái “can đảm đến liều mạng” kia cũng chỉ là khí tiết của
kẻ dũng phu. Nhưng để làm một con người trọn vẹn cho đúng nghĩa thì ngoài việc can
đảm ra, còn cần phải biết suy nghĩ, chứ nếu không cũng chỉ là một kẻ a-dua,
a-tòng, suốt đời chỉ biết bám theo đuôi người khác!
Thuở còn non nớt ngây ngô ấy, có những cái mình mới thấy
lần đầu, cho là đúng, chưa kịp phân tích nông sâu, phải trái đã hăm hở xông vào
làm với tất cả nhiệt huyết, thì đó lại là cuồng tín.
Suốt cả tuổi trẻ, tôi cũng đã sống và hành xử như một kẻ cuồng
tín!
Cuối cùng mới biết là mình cũng chỉ giống một con chuột
chũi. Đào cái lỗ chui vào và cứ thế hăm hở đào tiếp. Chung quanh tối om om, không
nhìn thấy cái gì cả! May thì tìm được lối thoát ra, không thì sẽ đắm chìm trong
bóng tối cho đến chết!
Thứ hai là trong cuộc sống tôi cứ cố vươn tới sự lương
thiện, không mánh khóe, không thủ đoạn. Tưởng là tốt, song đó lại chính là
nhược điểm chí mạng, làm cho không ai ưa được mình, không ai muốn gần gũi mình!
Cậu Lê Vĩnh Thiệu kỹ sư trẻ cùng phòng rất quí tôi mà cũng phải thốt lên: “Anh
thật có tài làm cho người ta ghét!”
- Biết thế, sao ông
không thay đổi đi?
- Nếu tôi chỉ biết nịnh
bợ, quen dối trá, liệu ông có còn chơi với tôi không?
- Tất nhiên là
không!
- Tôi đã muốn đánh
đổi tất cả để sống, dù có bị người khác ghét bỏ, nhưng không để ai khinh mình!
- Hóa ra ông cũng “sĩ
thối” phết!
- Đó không phải là
“sĩ thối”!
- Tôi hiểu chứ! Muốn trêu ông tí thôi!
- Tôi lại còn tật cố
hữu, biết là dở mà mãi chưa sửa được!
- Là gì?
- Cố
chấp!
- Cụ thể
là gì?
- Cái gì
cũng muốn rạch ròi, đúng sai, lại thường hay gân cổ lên cãi lấy được!
- Thế là tốt chứ sao!
- Không đâu! Ở đời ai
cũng nghĩ là mình mới đúng, nên nếu có người phản bác lại là họ sẽ nổi khùng
lên ngay. Mình bảo vệ ý kiến của mình, thì người khác cũng biết bảo vệ ý kiến
của họ chứ!
Chả thế mà Sô-crat(2) đã từng khuyên:
“Nếu muốn đứng được giữa trời đất, thì phải biết cúi đầu”!
- Nhưng đấy vẫn chưa
phải là dở nhất, cái dở nhất ở ông là gì, ông biết không?
- Là gì?
- Là ông không chịu tôn thờ “thần tượng”(4) nào, trong lòng ông chẳng phục ai cả!
- Có chứ! Thực ra khi mới nghe chuyện gì bao giờ tôi cũng
chỉ tin một nửa, sau khi kiểm chứng lại tôi mới tin thật sự! Khi đã tin là tin đến
chết luôn.
- Thí du?
- Như chuyện anh hùng trẻ tuổi Lê Văn Tám, mới tí tuổi
đầu đã đủ dũng khí tẩm săng vào người, châm lửa cháy bùng lên rồi chạy mấy chục
mét vào thiêu hủy cả kho săng lớn của địch ở Thị Nghè! Tôi cứ suýt soa “thán
phục” mãi, đến khi chính ông tác giả(3) trước lúc chết đã thừa nhận là bịa ra chuyện
này để tuyên truyền cách mạng( !) chứ không thể có một thằng bé dù anh
hùng mấy đi nữa khi toàn thân bốc cháy như ngọn đuốc mà vẫn còn đủ sức chạy mấy
chục mét nữa. Khi “sáng tác” chuyện, ông
ta còn quên mất một chi tiết cực kỳ quan trọng là ở một kho săng lớn nhất nhì
Miền Nam lúc bấy giờ lại không có một tên lính gác nào để cản ông anh hùng trẻ này
lại? Thế mà mọi người vẫn hoàn toàn tin vào câu chuyện bịa đặt phi lý ấy. Họ lấy
tên Lê Văn Tám để đặt cho rất nhiều trường học và nhiều công viên nữa!
Ngoài chuyện ông anh hùng trẻ tuổi này ra, đến bây giờ
khi đã cập kề miệng lỗ, tôi vẫn chưa thấy có việc gì, chuyện gì hoàn toàn
chân thực cả! Cái gì cũng lập lờ, luôn được cài cắm ý đồ này nọ vào đó để vụ
lợi. Cái lợi đó nếu không phải là những mớ vật chất thô thiển thì cũng nhằm để “thổi
phồng tên tuổi” của họ!
Nhưng dù là mục đích hay ý đồ gì thì đó vẫn là sự dối
trá, là không trung thực, là bịp bợm!
Sau những chuyện ấy tôi đã hoài nghi tất cả! Không tin ai
và không “thần tượng” một ai nữa!
- Có một người đã
nói: “Không có tiền, không đáng sợ bằng không có tri thức!” Và vì không có tri
thức, không hiểu biết, nên rất dễ để người khác lừa gạt, rất dễ bị người khác
dắt mũi lôi đi như con trâu, con bò!
- Nguyên văn câu nói
đó là: “Vô sản, không đáng sợ bằng vô học”!
- Có phải đó là câu
trả lời của Học giả Hoàng Xuân Hãn trả lời ông Lãnh tụ Việt Nam khi ông này
sang Pháp mời Trí thức Viêt Nam về nước xây dựng đất nước sau khi cướp chính
quyền năm 1946 không?
- Có lẽ thế! Ông thấy
đấy ngoài xã hội thì dối dá, bịp bợm, trong gia đình thì con đánh cha, vợ chửi
chồng, không còn tôn ti trật tự gì nữa, không còn đạo lý gì nữa!
- Xã hội đổi mới thì
cái đạo lý như ông quan niệm nó cũng phải đổi khác đi chứ!
- Con người khác con
vật vì nó có ý thức, có đạo lý, chứ nếu không thì khác gì một bầy súc vật? Ông phải
biết con vịt chỉ có thể đẻ ra quả trứng vịt, chứ không bao giờ có thể đẻ ra quả
trứng gà! Mặc dù thoạt nhìn thì hai quả trứng này rất giống nhau, có chăng chúng
chỉ to nhỏ hơn nhau tí chút, đã nhiều người nhầm trứng gà cồ với trứng vịt cỏ.
Bởi vậy vật chất bao giờ cũng có trước, rồi ý thức mới có
sau, sinh ra sau!
- Đấy, đấy chính là
gốc rễ của vấn đề. Người ta rất dễ quay về thời kỳ ăn lông, ở lỗ. Chỉ cần có
cái để nhét vào dạ dày, chứ thiếu đạo lý, chưa thấy ai chết ngay!
Đấy chính là nguyên nhân dẫn đến việc không mấy ai cần
phải học!
- Và đấy cũng chính
là sự khác nhau của các từng tầng lớp người trong xã hội!
- Thế mà sao mãi bây
giờ ông mới nói ra?!
- Vâng, bây giờ lúc đã
già rồi tôi mới hiểu được hết ngóc ngách câu nói đó!
- Thế thì rút kinh
nghiệm đi!
- Có mà rút vào lỗ!!!
- Biết rút kinh
nghiệm thì không bao giờ là muộn cả!
- Có lẽ phải đợi kiếp
sau, nếu như có kiếp sau!
- Theo tôi cứ phiên
phiến đi mà sống thì có lẽ sẽ thấy dễ chịu hơn, ông ạ!
- Ừ! Có lẽ thế!
- Thí dụ đi ngoài
đường, thấy có người bị cướp giật, thì tốt nhất là làm như không nhìn thấy!
- Thế à?
- Bởi nếu
ông hay tôi mà can thiệp vào thì không những chẳng giải quyết được việc gì mà
thậm chí còn làm phiền cho người khác nữa!
- Sao lại
thế?
- Một lão
già như tôi, như ông sẽ bắt được tên ăn cướp hay sẽ bị nó đánh cho, không chết
thì cũng bị thương?
- Nhưng cũng
phải có động thái gì chứ ai lại chỉ như một cục đá vất bên đường?
- Theo
ông thì nên làm thế nào?
- Không
bắt được tên cướp, cũng phải cản nó lại hoặc hô hoán lên chứ!
- Ông không sợ nó đập cho vỡ đầu à?
- Cũng
sợ, nhưng nín lặng còn khổ hơn!
- Người
Tàu có câu: “Giang sơn dễ đổi, bản tính khó rời!” Đúng thật!
- Ông nói
thế là ý gì?
- Có
nghĩa ông vẫn chỉ có thể là một người lương thiện! Khó sống đấy!
- Thế chả
lẽ để dễ sống, thì không nên lương thiện nữa à?
- Cũng có
lẽ! Nếu không “phấn đấu để thành một thằng bất lương” thì cũng nên bớt lương
thiện đi!
Từ
biệt ông bạn già, ra về tôi cứ suy nghĩ miên man mãi, như ông ấy đã cố sống cho
lương thiện mà sao vẫn gặp bao nhiêu tai họa? Chả nhẽ lương thiện với tai họa
lại là hàng xóm sát vách với nhau sao? Bây giờ tôi mới hiểu vì sao ông ấy lại mất
lòng tin, mới buồn rầu và suy sụp đến thế! Một sự việc không hề có mà người ta
còn bịa thành một câu chuyện anh hùng sáng chói bắt mọi người phải cúi đầu thờ
phụng, thì các việc khác chỉ cần bé xíu như hạt vừng, cũng có thể biến nó trở
thành một sự kiện vĩ đại hoặc thành kiệt tác to lớn vô biên.
Rồi
tôi cũng “đổ theo” suy nghĩ của bạn mình:
- Trên
đời “Chẳng có đếch “thần tượng” nào cả! Chỉ là thằng này lừa thằng khác có “ngoạn
mục” hay không mà thôi!”
Trong
cái xã hội “hỗn mang” này, cái gì là thực, cái gì là giả cứ luôn “lộn tùng phèo
lên ráo trọi”!
Rồi
lại “lẩm cẩm” tự nhủ rằng:
“Đừng
lương thiện quá, mà mang vạ vào thân”!
Hà Nội, 2020.
(1) Công
lệnh: Giấy đi đường = Lệnh đi công tác.
(2) Sô-crat (Socrates) = triết gia Hy Lạp cổ đại.
(3) Gs Trần Huy Liệu (trang 567 trong File này)
(4) Thần tượng: Cái được tôn sùng, chiêm ngưỡng một cách si mê.
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)



