Trước đây gia đình tôi ở cạnh nhà máy Xi-măng Hải Phòng, năm 1972 bom Mỹ phá sập, bố mẹ tôi phải sơ tán lên Hà Nội ở chung với chúng tôi tại Tập thể Trạm 10 Cầu Giấy, khu tập thể của Viện Thiết kế Giao thông nơi chúng tôi công tác.
Cơ quan phân phối cho mỗi gia đình (dù cả hai vợ chồng cùng cơ quan) một
gian nhà cấp bốn vách tooc-xi diện tích 13 mét vuông nên quá chật chội. Đến
1987 thì các cụ đành phải mua nhà ở khu Lắp ghép Trương Định.
Dân số Thủ Đô ngày càng tăng lên, mà đại đa số lại là người nghèo! Vì thế
Nhà nước đã phải nhanh chóng xây dựng các khu nhà ở rẻ tiền, để cung cấp cho
những người có thu nhập thấp.
Lúc ấy, lần đầu tiên Hà Nội phát triển các kiểu nhà lắp ghép đơn giản đó là
vào giai đoạn năm 1965 - 1986. Mẫu nhà ở có 2 tầng lắp ghép tấm lớn độn vật
liệu xỉ, được xây dựng thí điểm tại hai khu Trương Định và Yên Lãng.
Mỗi ô có diện tích mặt bằng là 13,5 mét vuông, nó nho nhỏ, xinh xinh như
cái chuồng chim, vì thế mọi người gọi nó là khu nhà chuồng chim!
Vì thế khi bán nhà, Ban Quản lý Đô thị phải dựa trên hộ khẩu. Hộ nào có từ
bốn người trở lên mới được mua cả trên lẫn dưới là 27 mét vuông.
Lúc mua nhà, hộ khẩu của bố mẹ tôi có hai người, nên chỉ mua được nửa gian diện
tích 13,5 mét vuông ở đầu hồi dãy nhà Q8.
Tới năm 1992 mẹ tôi bị tai biến. Chúng tôi liền thu xếp lên ở cùng, chăm các
cụ.
Khi chúng tôi dọn lên Trương Định thì tổng số người trong nhà đã lên tới sáu,
mà diện tích nhà ở chỉ có 13,5 mét vuông thì “quả là không thể thở nổi”.
Từ gian nhà chúng tôi, qua con đường nhỏ chỉ rộng gần hai mét là đến một vạt
ruộng trồng rau của một bà lão nông dân nghèo đông con cái. Thấy vậy tôi rất muốn
hỏi mua lại một mảnh nhỏ để dựng nhà tạm mà ở.
Tôi bàn với bố là cụ thử đặt vấn đề với bà lão chủ ruộng rau xem thế nào?
Bố tôi thở dài nói:
- Trước khi gọi anh chị lên đây ở, tôi đã nghĩ tới điều này rồi. Nhưng khi
hỏi thì mới biết mấy đồng chí Công an trên phường đã ép bà lão phải nhượng lại
cho họ với giá rẻ như cho không. Hơn mẫu vườn mà chúng chỉ trả cho bà ấy có bảy
đồng cân vàng!
- Bố thử thương lượng với mấy ông Công an phường, xin họ để lại một miếng
nhỏ? Dù gì gia đình ta cũng là gia đình Liệt sĩ mà!
- Tôi chưa phấn đấu lên đến Bộ trưởng Bộ Công an, nên anh “đừng có mà mơ”!
- Có mấy nhà Công an của phường này thì làm sao họ ở cho hết cả cái vườn lớn
thế?
- Anh được đi học mà sao “ngu” thế? Này nhé sau khi họ “mua được” cái vườn
rau của bà cụ Bảy, họ tiếp tục “xin để lại thêm” cái ao thả cá của Hợp tác xã
làng Tương Mai nữa. Sau đó họ cho lấp ao. Toàn bộ khoảnh đất gồm cái vườn rau,
cộng cái ao mấy mẫu của Hợp tác xã, có cơ lên đến mấy nghìn mét vuông chứ chẳng
ít.
Xong xuôi họ chia nhau. Kể từ trái sang thì đầu tiên là nhà Mùi,
rồi đến nhà Lãm đuổi chợ, nhà Đảo, nhà Sắt, nhà Hối, nhà Phán tiến sĩ, nhà Viên, nhà Tụng, nhà Duyên, nhà Dục, nhà Thẩy, nhà Đãng, nhà Đậu, vv và vv... Trên chín mươi phần trăm trong số đó là Công an phường này,
quận này, vài ba phần khác là công an phường bên cạnh, quận bên cạnh, có cả
Công an trên thành phố nữa. Họ vạch đất chia nhau rồi, nếu không ở xuể thì xây
nhà bán lại cho người ngoài cũng dôi ra hàng chục lần ấy chứ, cũng có vài người
ở tận đẩu, tận đâu cũng mua lại được đất ở đây!
Cái lạ hơn cả là chẳng hiểu sao tất cả bọn họ đều được cấp sổ đỏ (giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất) ngay lập tức, rất hợp pháp, rất nhanh gọn. Dân thường mà
làm sổ đỏ thì phải đi lại hàng năm, có khi vài năm, tốn kém không ít mới được
cấp!
Nghe nói bà cụ Bảy chủ cái vườn ấy uất quá về ốm một trận thật kịch liệt
rồi chết khổ, chết sở. Oan hồn không siêu thoát được. Người yếu bóng vía, những
đêm mưa dầm vẫn thấy bóng bà lão lần về đi quanh quẩn bên cái vườn cũ, không nỡ
rời đi. Con cháu bà cũng vì mất đất mà phiêu dạt nơi xa xăm nào đó không còn chỗ
đi về để thờ cúng tổ tiên.
Ai cũng cứ tưởng những điều oan trái xảy ra như cơm bữa trên cõi đời này,
rồi cũng đều dần chìm vào quên lãng!
Nào ngờ chỉ sau đó dăm năm, những chuyện lạ lùng rất rùng rợn xảy ra làm
những người biết chuyện phải giật mình kinh sợ, phải suy ngẫm lại mà tự răn mình!
***
Những kẻ ăn không, ăn hỏng cái vườn rau của bà cụ Bảy, chiếm đoạt trắng
trợn cái ao thả cá của Hợp tác xã làng Tương Mai, đang ung dung hưởng thụ trên
máu thịt của dân nghèo, vui sướng trên nỗi đau khổ của người khác.
Có nhà trong bọn họ bán đi một phần nhỏ cơ ngơi ăn cướp ấy đã thu được hàng
năm, bảy tỷ đồng, tha hồ tiêu xài phung phí.
Nhưng chẳng hiểu vì sao họ và gia đình họ đều đột nhiên suy sụp, nát bấy
như những xác chết thối rữa, đầy giòi bọ kinh khủng!
Họ thay nhau ốm đau quặt quẹo, tiền của trong nhà cứ bay đi vun vút như rơi
qua một cái lỗ hổng không đáy. Con cháu họ thì chẳng đứa nào ra hồn, đa phần bọn
chúng đều hư hỏng, nghiện ngập, có đứa chưa kịp trưởng thành, đã chết giấm,
chết giúi tận nơi khỉ ho, cò gáy mất tăm, mất tích. Lại có đứa trộm cắp rồi vào
tù, ra tội thường xuyên như đi chợ.
Cái lạ hơn cả là tất cả bọn này và gia đình bọn này đều khốn khổ, khốn nạn,
không bao giờ còn “ngóc” đầu lên được nữa.
***
Ngẫm lại thấy lạ thật, thấy sợ thật!
Đúng như người ta thường nói của phi nghĩa chẳng giàu đâu!
Mới biết ở đời này, của ăn cướp, nuốt khó trôi!
Mà các cụ dạy rồi, cấm có sai bao giờ: “Gieo nhân nào, gặt quả nấy”!
Hà Nội,2024.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét